Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Nuôi dưỡng bộ não cho đúng

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 24: Nuôi dưỡng bộ não cho đúng


Những nghiên cứu mới nhất cho thấy yếu tố ăn uống có vai trò quan trọng trong việc quyết định bộ não ở tuổi già vẫn minh mẫn hay phải chịu một trong những căn bệnh thoái hóa thần kinh.

Tiến sĩ Mark P. Mattson, “Tương tác giữa chế độ ăn và gen trong sự già đi của não bộ và các hội chứng thoái hóa thần kinh,” Tạp chí Nội Y học (Annals of Internal Medicine), 2003

Quan niệm sai lầm thông thường là có sự tách biệt giữa tâm trí và cơ thể. Trên thực tế, không có sự tách biệt lớn nào giữa tâm trí và cơ thể. Điều gì xảy ra với một cái cũng xảy ra với cái kia. Cả hai thuộc về cùng một hệ thống, hoạt động tốt hoặc hư hỏng cùng nhau. Bạn không thể có hoạt động nhận thức và tâm lý khỏe mạnh mà không có một cơ thể khỏe mạnh, được nuôi dưỡng hợp lý (Lần cuối cùng tôi kiểm tra, bộ não là một phần của cơ thể con người – ít nhất là ở hầu hết mọi người). Ngay cả những phương pháp trị liệu tâm lý hay thuốc an thần tốt nhất cũng không thể mang lại một chất dinh dưỡng bị thiếu hay loại trừ một chất độc đang ở trong bộ não. Những thứ đó còn lâu mới có thể bù lại một chế độ ăn không đúng mực.

Nguy cơ suy giảm trong chức năng nhận thức và khả năng học hành ở học sinh trung học tăng 400% nếu bị nhạy cảm với gluten.
M. Verkasalo, “Bệnh celiac thầm lặng không được chẩn đoán: Một nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng học hành,” Tạp chí Vị tràng học Scandinavia (Scandinavian Journal of Gastroenterology), 2005
Bộ não và cơ thể cần một số nguyên liệu thô để hoạt động. Chấm hết. Không có đầy đủ những nguyên liệu thô phù hợp, không một hình thức trị liệu nào có thể có kết quả tối ưu hay lâu dài. Những chất độc nhận vào hàng ngày, dù là đường hay bột, gluten, rượu bia, kim loại nặng, mì chính, xenoestrogen, thực vật biến đổi gen, hay chất ô nhiễm, không thể được bù lại bằng bất cứ hình thức trị liệu tâm lý hay bằng cách nhồi thêm chất độc mới dưới hình thức thuốc kê đơn. Thêm vào đó, tất cả các chất truyền dẫn thần kinh có các thụ cảm tương ứng ở tất cả mọi cơ quan và hệ thống trong cơ thể. Trong số gần 300 chất truyền dẫn thông tin trong cơ thể, gần như tất cả ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể chứ không phải chỉ giới hạn ở bộ não. Ngay cả các nơron cũng không giới hạn trong não bộ. Chúng tồn tại với số lượng lớn ở nhiều nơi khác trong cơ thể.

Tâm trí (bao gồm cả trí nhớ và tình cảm) không chỉ nằm trong bộ não; tâm trí tồn tại như một “trường” xuyên khắp cơ thể con người! Cái gì ảnh hưởng đến tâm trí sẽ ảnh hưởng đến cơ thể, và ngược lại. Bạn không thể tách rời hai thứ.

Đất nước Prozac

Năm 1985, tổng doanh thu của tất cả các loại thuốc chống trầm cảm ở Hoa Kỳ là 240 triệu đôla. Bây giờ, nó vượt quá 12 tỷ đôla. Từ 1987 đến 1997, tỷ lệ phần trăm người Mỹ phải điều trị trầm cảm tăng hơn gấp ba lần. Trong những người đó, tỷ lệ phải uống thuốc kê đơn tăng gần gấp hai lần. Trong số 300 loại thuốc kê đơn phổ biến nhất, không một loại nào thực sự hỗ trợ các hoạt động tự nhiên của cơ thể.

Một bài báo đăng trên tờ Tạp chí Phố Wall (The Wall Street Journal) xuất bản ngày 28/12/2010 báo cáo rằng hơn 25% trẻ em vị thành niên hiện nay đang phải dùng thuốc kê đơn một cách thường xuyên! Ngoài việc uống thuốc kê đơn cho các hội chứng như Rối loạn quá hiếu động, thiếu tập trung (ADHD) và hen suyễn, trẻ em giờ đang uống những thứ thuốc như thuốc ngủ, thuốc cho bệnh tiểu đường, thuốc huyết áp cao, và thậm chí cả thuốc statin, thường chỉ được dùng cho người lớn do có những tác dụng phụ không lường hết được nếu sử dụng với trẻ em trong thời gian dài. Tiến sĩ Danny Benjamin, giáo sư Nhi học tại trường Đại học Duke, thừa nhận với tờ Tạp chí Phố Wall rằng kê đơn thuốc điều trị trong thời gian dài cho trẻ em là một vấn đề nghiêm trọng. “Chúng tôi biết rằng chúng tôi đang mắc nhiều sai sót trong liều lượng và độ an toàn,” ông nói, lưu ý thêm rằng các bậc cha mẹ cần phải đặt câu hỏi nhiều hơn về độ an toàn của các loại thuốc mà bác sĩ kê đơn. Bạn nghĩ xem!

Thuốc kê đơn thay đổi môi trường sinh hóa của cơ thể một cách trái tự nhiên để cố gắng làm giảm nhẹ các triệu chứng bề ngoài. Tất cả đều có khả năng mang lại tác dụng phụ và gây rối loạn nội tiết. Phần lớn, nếu không nói là tất cả, các loại thuốc kê đơn làm trầm trọng thêm những thiếu hụt dinh dưỡng và rối loạn nội tiết sẵn có.

Thực tế là, tất cả các loại thuốc kê đơn có tác dụng về tâm lý đều hoạt động bằng cách tác động lên những thụ cảm tế bào được thiết kế để tiếp nhận những chất tạo ra một cách tự nhiên trong cơ thể. Việc sử dụng những loại thuốc kê đơn này có thể làm suy giảm độ nhạy cảm với chất do chính cơ thể tạo ra và gây rối loạn các kênh thông tin và hoạt động giữa các tế bào, làm mọi thứ tồi tệ hơn về mặt lâu dài (ngay cả khi có vẻ có những lợi ích nhất thời). Mất cân bằng về dinh dưỡng và chế độ ăn, nhạy cảm với thực phẩm, ảnh hưởng của các chất độc trong môi trường có thể tác động lên gần như tất cả các bệnh. Có những giải pháp tự nhiên không cần thuốc kê đơn cho hầu như tất cả mọi bệnh vì cơ thể và não bộ con người là một bộ máy kỳ diệu có khả năng tự chữa lành chỉ cần được cung cấp đủ nguyên liệu thô cần thiết và không phải chịu gánh nặng của các độc tố bên ngoài.

Cần một quyết tâm nhất định để tự chịu trách nhiệm về sức khỏe của bản thân. Cần một quyết tâm nhất định để tự tìm tòi giải đáp cho bản thân. Đôi khi (bản chất con người là vậy), cần phải đạt đến một điểm mà sự đau đớn, khó chịu của những vấn đề hiện tại vượt quá những khó chịu hay cố gắng cần thiết cho một giải pháp lâu dài để có được thay đổi thực sự và lâu bền. Sức khỏe của bản thân là một lựa chọn cho tất cả chúng ta và là một trách nhiệm mà tất cả chúng ta đều phải nhận. Không một viên thuốc thần nào có thể thay thế một chế độ ăn và lối sống tuân thủ tâm sinh lý nguyên thủy của chúng ta.

Tôi ngừng uống thuốc vì tôi thích căn bệnh ban đầu hơn các hiệu ứng phụ của thuốc
 

Kinh nghiệm điều trị của bản thân tôi

Là một chuyên gia về phản hồi thần kinh, phương pháp của tôi là coi những triệu chứng rối loạn tình cảm và nhận thức, về một phương diện nào đó, như một loại rối loạn về mức độ kích thích thần kinh. So với những phân loại trong cuốn sách ngày càng dày thêm Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Thần kinh (DSM-IV), nguyên tắc phản hồi thần kinh cực kỳ đơn giản. Một hệ thống thần kinh có thể trong trạng thái kích thích quá yếu, hoặc quá mạnh, hoặc không ổn định, lúc thế này lúc thế kia.

Phản hồi thần kinh không hẳn là một phương pháp trị liệu, mà về cơ bản là một phương pháp rèn luyện thần kinh. Ít nhất ban đầu là như vậy. (Dĩ nhiên là tôi đơn giản hóa đi rất nhiều ở đây).

Hầu hết các triệu chứng hay vấn đề tôi gặp rơi vào một trong những thể loại trên. Tuyệt đại đa số bệnh nhân đến gặp tôi hiện nay thuộc thể loại kích thích quá mạnh hoặc không ổn định. Điều này trở nên ngày một rõ trong những năm gần đây. Rèn luyện não bộ giúp phục hồi các kênh liên lạc thần kinh, và rồi bộ não tự học cách điều chỉnh bản thân nó.

Hơn tất cả mọi yếu tố khác, thứ duy nhất tôi thấy giúp làm giảm những dạng rối loạn trên trong mọi trường hợp là chế độ ăn, đặc biệt là với rối loạn đường huyết (thường đi kèm với kháng insulin và leptin). Nhạy cảm thực phẩm và thiếu hụt dinh dưỡng cũng đặc biệt phổ biến đến mức gần như đại dịch, chủ yếu ở những người theo chế độ ăn dựa trên carbohydrat. Không gì làm hại các hoạt động của não bộ và sự phục hồi các hoạt động của nó hơn là một chế độ ăn tồi tệ.

Hệ quả là gì?

Tất cả mọi thứ bạn từng làm, từng cảm giác hay trải nghiệm trong cuộc đời này đều nhờ vào hoạt động của bộ não. Khả năng nhận biết, trải nghiệm và hưởng thụ cuộc sống phụ thuộc vào sức khỏe của bộ não. Một người không thể khỏe mạnh về tâm sinh lý nếu không có một bộ não khỏe mạnh.
Datis Kharrazian, D.H.Sc, D.C, M.S., “Các chất truyền dẫn thần kinh và bộ não,” Portland, Oregon, 2008.

Trong suốt cuộc đời hành nghề của tôi, những cá nhân với bộ não và hệ thống thần kinh bị rối loạn nhiều nhất và khó chữa nhất là những người ăn chay tuyệt đối (hoàn toàn không ăn sản phẩm động vật, kể cả trứng, sữa), tiếp theo là những người ăn chay. Hai nhóm này bỏ xa tất cả các nhóm khác. Nhiều đồng nghiệp khác của tôi cũng có cùng một quan sát và kết luận. Bất cứ ai bị mê hoặc bởi cái gọi là kết quả nghiên cứu trong cuốn sách Nghiên cứu Trung Quốc: Nghiên cứu toàn diện nhất về dinh dưỡng từng được tiến hành và những hệ quả của nó đối với chế độ ăn, sự giảm cân và sức khỏe về lâu dài (The China Study: The most comprehensive study of nutrition ever conducted and the startling implications for diets, weight loss and long-term health) - của T. Colin Campbell, một người ăn chay tìm cách chứng minh tính ưu việt của chế độ ăn chay - nên đọc bản phân tích khách quan và được nghiên cứu rất kỹ càng về những “kết quả nghiên cứu” đó, tiến hành bởi nhà nghiên cứu Denise Minger (http://rawfoodsos.com/2010/07/07/the-china-study-fact-or-fallac/). Công trình nghiên cứu kỹ lưỡng của bà là một kiệt tác về nghiên cứu. Nó hoàn toàn hạ bệ bản báo cáo đầy sai sót Nghiên cứu Trung Quốc. Thông thường, một chế độ ăn dựa trên tinh bột, đường, lectin, phytate, và các thực phẩm gây dị ứng khác gắn liền với những vấn đề sức khỏe mãn tính, bao gồm sự thiếu hụt nhiều loại chất béo quan trọng hay không thể thiếu (EPA, DHA, chất béo bão hòa), thiếu hụt các chất dinh dưỡng hòa tan trong chất béo (vitamin A, D3, E và K2 sẵn sàng cho sử dụng), mất cân bằng amino acid, và thiếu hụt nhiều chất dinh dưỡng quan trọng có nguồn gốc động vật khác, một thứ rất quan trọng trong đó là vitamin B12 sẵn sàng cho sử dụng (tiền vitamin B12 trong tảo biển không được tính). Một chế độ ăn như vậy, cùng các thiếu hụt dinh dưỡng có liên quan, dẫn đến các rối loạn thần kinh, vấn đề về trí nhớ, rối loạn nhận thức, mất ngủ, suy thoái não bộ, rối loạn tiêu hóa, và một trạng thái hỗn loạn trong quá trình trao đổi chất của cơ thể. Đấy là một chế độ ăn cực kỳ tai hại, và nếu duy trì trong thời gian dài, những tổn hại của nó có thể không đảo ngược được nữa. Những chế độ ăn hạn chế một cách trái tự nhiên này, cùng với những chế độ ăn ít chất béo dựa trên carbohydrat khác, làm mất cân bằng hoạt động của insulin và leptin đến mức cực điểm.

Nhớ là hooc-môn leptin điều khiển hầu như tất cả hoạt động của vùng dưới đồi trong não. Đấy là quyền điều khiển rất lớn.

Hơn bất kỳ yếu tố nào khác, những vấn đề liên quan đến sự quá độ về carbohydrat đóng góp ít nhất là một phần nào đó vào tất cả các vấn đề hành vi và tình cảm.

Có bằng chứng vững chắc rằng nồng độ cao của insulin và leptin đều sản sinh và tăng mạnh các kích thích thần kinh giao cảm (bản năng chiến đấu hoặc chạy trốn). Những đợt dâng trào của các hooc-môn này, tạo ra chủ yếu bởi ăn quá nhiều carbohydrat trong thời gian dài, gây ra trạng thái lo âu và gây mất ổn định trong hệ thống thần kinh. Những chế độ ăn thiếu các chất béo chất lượng cao càng làm mất ổn định thần kinh hơn nữa. Phương pháp phản hồi thần kinh có thể giúp người bệnh tiến bộ rất nhiều, tăng khả năng chịu stress và khả năng tự kiểm soát bản thân, nhưng sự kết hợp giữa một chế độ ăn hiệu quả và phương pháp rèn luyện thần kinh tốt mới thực sự mang lại những kết quả kỳ diệu. Tôi thấy điều đó hàng ngày.

Làm thế nào chúng ta rơi vào tình trạng này

Đơn giản mà nói, stress và tổn thương (về mặt thể chất, tình cảm hoặc sinh hóa) đã đẩy chúng ta rơi khỏi bờ vực mà lúc trước chúng ta đang đứng trên đó. Điểm yếu của chúng ta ở đâu, dù tạo ra bởi thể trạng từ lúc mới sinh hay do sức khỏe hiện thời, thì chỗ đó sẽ bị bộc lộ ra. Các cơ chế và quan hệ phối hợp nhịp nhàng của bộ não có thể bị rối loạn và gây ra một số trạng thái nhất định xung quanh những điểm yếu đó. Một số người, khi bị đẩy xuống, rơi vào trạng thái lo âu không thể thoát ra được, một số khác bị trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, đau nửa đầu, co giật, nghiện ngập, hay một rối loạn nào khác. Kể ra thì rất dài. Chúng ta đều là những cá thể riêng biệt, và không có cặp nào có cùng một phản ứng đối với các tác động của stress và tổn thương.

Chúng ta nhìn thế giới xung quanh thông qua lăng kính của các hooc-môn, chất truyền dẫn thần kinh và nồng độ đường huyết. Tình trạng hooc-môn mất cân bằng dẫn đến những trạng thái thần kinh mất cân bằng và tiếp theo đó là những xu hướng tình cảm và hành vi không lành mạnh. Chúng ta tỉnh dậy buổi sáng với nồng độ đường huyết thấp do rối loạn insulin và chế độ ăn kém, và chúng ta cảm thấy không muốn làm gì cả. Tiếp đó chúng ta diễn giải cảm giác chán chường đó bằng cách gắn nó với những sự kiện và người thân trong cuộc sống của chúng ta, coi họ là nguyên nhân (và rằng cuộc sống nói chung thật là đáng chán) thay vì nhận biết rằng chúng ta đang bị ảnh hưởng bởi những nhận thức méo mó, sai lệch tạo ra bởi sự mất cân bằng sinh hóa trong cơ thể. Chúng ta bị điều khiển bởi hệ thần kinh hoạt động sai lệch, hành động theo những cách mà chúng ta kinh tởm, và từ đó có thể cảm thấy chính bản thân con người chúng ta thật là tồi tệ. Đây là một nguyên nhân rất lớn cho những vấn đề về lòng tự trọng. Chúng ta tiếp tục nhìn nhận thế giới xung quanh ta qua cái lăng kính méo mó đó và tự hành hạ bản thân (hay đổ lỗi cho người khác) về những khuyết điểm của chúng ta.

Vào bất kỳ thời điểm nào, chúng ta đều có những điều tốt đẹp và những điều khó khăn trong cuộc sống mà chúng ta có thể tập trung chú ý vào. Tại sao chúng ta thiên về một bên thay vì bên kia? Hoạt động của hooc-môn, đặc biệt là insulin và leptin, có ảnh hưởng rất lớn đến cách chúng ta nhìn nhận và diễn giải thế giới xung quanh và các sự kiện trong cuộc sống của chúng ta. Ảnh hưởng thứ cấp của rối loạn đường huyết, insulin và leptin góp phần vào sự rối loạn và suy kiệt của các chất truyền dẫn thần kinh. Đây là một vấn đề cực kỳ lớn, và nó ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến cách nhiều người diễn giải và hành động hay phản ứng với thế giới của họ. Có gì đáng ngạc nhiên không khi thế giới này ở trong tình trạng hỗn loạn đến vậy?

Không có gì ảnh hưởng đến hoạt động của các hooc-môn và các chất truyền dẫn thần kinh (hay bộ não) của bạn nhiều hơn nồng độ đường huyết. Các chất truyền dẫn thần kinh là những yếu tố chính điều khiển tình cảm và hoạt động của não bộ. Những đợt dâng trào của đường huyết gây ra những đợt dâng trào – và sau đó là cạn kiệt và rối loạn – của các chất truyền dẫn thần kinh serotonin, epinephrine, GABA và dopamine. Những đợt dâng trào đường huyết còn làm cạn kiệt các vitamin B, cần thiết để sản xuất các chất truyền dẫn thần kinh và vài trăm thứ khác, làm cạn kiệt magiê, cần thiết cho hoạt động thần kinh phó giao cảm (thư giãn), giải độc gan, tổng hợp DHA, và vài trăm thứ khác nữa.

Ăn những thực phẩm mà bạn nhạy cảm với kích thích những đợt dâng trào cortisol và các hooc-môn stress, và tiếp đó là insulin cùng histamine, gây kích thích mạnh lên hệ thần kinh. Những đợt dâng trào của insulin ngăn không cho L-trytophan thấm qua màng ngăn giữa não và máu và ngăn cản hoạt động của hầu hết các chất truyền dẫn thần kinh khác. Một bộ não dựa vào glucose để hoạt động sẽ bị ảnh hưởng nặng nề trong những đợt dâng trào này. Trạng thái tình cảm, cùng với khả năng nhận thức, sẽ trở nên không ổn định và lệ thuộc vào nồng độ đường huyết. Thay vào đó, một bộ não dựa vào ketone để hoạt động sẽ không bị lệ thuộc như vậy (tuy nhiên vẫn phải đề phòng hoặc giải quyết các vấn đề nhạy cảm thực phẩm và thiếu hụt dinh dưỡng).

Những đợt dâng trào đường huyết làm tăng mạnh hoạt động glycation và làm gia tăng insulin, leptin, cortisol cùng các cytokine gây sưng tấy. Tổng hợp lại, những phản ứng này góp phần vào sự thoái hóa của bộ não hơn bất cứ yếu tố nào khác, và gây rối loạn lớn cho nhiều quá trình sinh lý khác của cơ thể. Bộ não rất dễ bị tác động bởi hoạt động glycation của glucose (gây các tổn hại ôxy hóa), làm thoái hóa các cấu trúc tinh tế và làm suy giảm khả năng hoạt động của nó. Bộ não càng bị thoái hóa bao nhiêu thì nó càng dễ bị lâm vào trạng thái kích thích thái quá. Nó bắt đầu mất khả năng chịu stress. Ngày nay, các rối loạn tâm lý lo âu gần như ở mức độ đại dịch.

Bằng cách tối ưu hóa chế độ ăn của chúng ta và giảm đến mức tối thiểu sự lệ thuộc vào glucose để làm năng lượng cho cơ thể, chúng ta thay đổi toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Nó không phải chỉ là cho sức khỏe; nó là tác động và thay đổi cả thế giới bên trong của chúng ta để hướng tới một cuộc sống đích thực.

Còn gì quan trọng hơn nữa?


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.