Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh chống Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh chống Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015

Việt Nam thoát khỏi thảm họa hạt nhân trong chiến tranh chống Mỹ như thế nào?

Người dân Nhật Bản sau thảm họa nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki

Nguồn: Tiền Phong

Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ nhiều lần khởi thảo kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Việt Nam và Lào, nhưng rồi đều hủy bỏ. Theo một số tài liệu được giải mật, các nhà khoa học Mỹ cảnh báo, việc tấn công hạt nhân ở Đông Nam Á là "lợi bất cập hại".

Hồi giữa thập niên 60, khi chiến tranh Việt Nam đang khốc liệt, Bộ Quốc phòng Mỹ bắt đầu một nghiên cứu để xác định tính khả thi và thích đáng của việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Việt Nam, nhằm phong tỏa đường mòn Hồ Chí Minh, phá hủy các căn cứ quân sự, cảng biển, hoặc tàn sát một lượng lớn quân đối phương…

Bản nghiên cứu năm 1967 có tựa đề “Vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Đông Nam Á” và được giải mật nhiều năm sau đó. Điểm mấu chốt của nghiên cứu này là việc sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam sẽ không đem lại cho Mỹ lợi thế quân sự mang tính quyết định mà lại gây hậu quả nghiêm trọng đối với binh sĩ Mỹ trên chiến trường và lợi ích của Mỹ trên khắp thế giới.

Bản nghiên cứu do bốn nhà vật lý thực hiện. Họ cộng tác với Phòng vị Jason của Viện Nghiên cứu Quốc phòng Mỹ - nơi một nhóm nhà khoa học thường xuyên gặp gỡ để cung cấp những lời khuyên bí mật cho các quan chức quốc phòng. Kết luận của bản nghiên cứu được trình lên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc ấy là ông Robert McNamara.

“Tác động chính trị của việc Mỹ lần đầu sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Việt Nam sẽ rất xấu và có thể rất thảm khốc”, các nhà khoa học Mỹ viết.

Họ cảnh báo rằng, việc Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật lần đầu tiên có thể dẫn tới tình trạng Liên Xô hoặc Trung Quốc cung cấp vũ khí tương tự cho Việt Cộng (Quân Giải phóng miền Nam) và miền bắc Việt Nam. Điều đó làm tăng nguy cơ các lực lượng của Mỹ ở Việt Nam “sẽ bị hủy diệt tận gốc” trong các đợt phản công trả đũa của quân du kích được trang bị vũ khí hạt nhân.

Các nhà khoa học Mỹ viết rằng, nếu điều đó xảy ra, “các nhóm nổi dậy khắp nơi trên thế giới sẽ ghi nhớ và tìm mọi cách để có được vũ khí hạt nhân chiến thuật”.

Họ cảnh báo: “Việc lần đầu sử dụng vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á có thể dẫn tới việc tăng đáng kể nguy cơ dài hạn của các chiến dịch du kích hạt nhân ở những nơi khác trên thế giới”, như tấn công vào kênh đào Panama, kho chứa và đường ống dẫn dầu ở Venezuela, thủ đô Tel Aviv của Israel… “An ninh của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng nếu việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật của các lực lượng du kích trở nên phổ biến”, các nhà khoa học Mỹ kết luận.

Không quân Mỹ từng muốn dùng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam và Lào

Không quân Mỹ từng muốn sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam năm 1959 và 1968 và ở Lào năm 1961, để xóa sổ quân du kích, theo các tài liệu của Không quân Mỹ được giải mật gần đây.

Năm 1959, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, “tướng Thomas White muốn làm tê liệt quân nổi dậy và các tuyến đường tiếp tế của họ bằng cách tấn công một số mục tiêu ở miền bắc Việt Nam bằng vũ khí thông thường hoặc vũ khí hạt nhân”, một tài liệu viết.

Tuy nhiên, tham mưu trưởng của các binh chủng khác không tán thành tấn công Việt Nam bằng vũ khí hạt nhân. Bảy tháng sau đó, đề xuất của tướng White được rút lại. Tập tài liệu mật dài 400 trang có tựa đề “Không quân Mỹ ở Đông Nam Á: Cuộc chiến ở Bắc Lào giai đoạn 1954-1973”.



Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Martin Luther King, Jr.: Một người Mỹ đã ngã xuống vì Việt Nam

Cuộc sống của chúng ta bắt đầu chấm dứt từ cái ngày
chúng ta im lặng về những thứ thực sự quan trọng.
Martin Luther King, Jr.

Tác giả: TS. Phan Văn Hoàng
Nguồn: Blog Chiến tranh Việt Nam

Ngày 4/4/1967, giữa lúc bom đạn và chất độc hoá học của Mỹ trút xuống Việt Nam, một người Mỹ tuyên bố trước công chúng ở New York: “Tôi nói với tư cách một người anh em của những người Việt Nam nghèo khổ” và kêu gọi: “Để chuộc lại những tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này”.

Người Mỹ ấy là mục sư Martin Luther King, Jr. Ông nổi tiếng là một thủ lãnh kiệt xuất của phong trào đòi quyền công dân của hàng triệu người da đen ở Mỹ, song không phải ai cũng biết ông còn là người kiên quyết đấu tranh cho hoà bình của Việt Nam.

Đúng một năm sau, ngày 4/4/1968, ông đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh ấy.

Đầu năm 1965, Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh ở Việt Nam: vừa ào ạt đổ quân viễn chinh vào miền Nam, vừa ném bom bừa bãi xuống miền Bắc. Martin Luther King, Jr. (MLK) đã sớm nhận ra tính chất phi nhân phi nghĩa của cuộc chiến tranh ấy, nên ngay từ tháng 7/1965, ông đã yêu cầu: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam phải được chấm dứt. Phải giải quyết nó bằng thương lượng”.

MLK phản đối chiến tranh trước hết vì nó ảnh hưởng tai hại đến cuộc sống của những người Mỹ da đen. Để có tiền chi phí cho chiến tranh, chính phủ Mỹ cắt giảm nhiều biện pháp cải thiện đời sống cho người nghèo (đa số là người da màu) trong chương trình “Xã hội vĩ đại”. MLK cho biết: tổng thống Johnson tiêu tốn 322.000 đô-la để giết một du kích quân ở Việt Nam, nhưng chỉ chi 53 đô-la cho mỗi đầu người trong cuộc chiến tranh chống nghèo đói ở Mỹ. MLK kết luận: “Những lời hứa về “Xã hội vĩ đại” đã bị bắn gục trên chiến trường Việt Nam”.

Nạn kỳ thị màu da còn thể hiện trong chiến tranh. Người da đen chỉ có 13% dân số Mỹ, nhưng chiếm đến 28% số lính Mỹ bị đẩy ra chiến trường. Chỉ có 2% sĩ quan là người da đen. Theo MLK, đó là lý do khiến tỷ lệ lính da đen chết trận tại Việt Nam luôn cao một cách bất bình thường.

MLK không thừa nhận chiêu bài “bảo vệ tự do” mà chính phủ Mỹ thường dùng để động viên thanh niên da đen sang Việt Nam. Ông nói: “Thanh niên da đen bị gửi đi xa 8.000 dặm để bảo vệ tự do cho Đông Nam Á, cái tự do mà họ không tìm thấy ở tây nam Georgia hay ở đông Harlem”.

Còn một lý do khác, sâu xa hơn, cao thượng hơn, khiến ông phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam được ông trình bày trong bài diễn thuyết tại New York ngày 4/4/1967.

MLK điểm lại chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong hai thập niên sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai của bốn đời tổng thống: Truman, Eisenhower, Kennedy và johnson.

Trong khi chính phủ Mỹ luôn tự xưng là “lãnh tụ của thế giới tự do” thì MLK chỉ ra rằng Mỹ đã đứng về phía thực dân Pháp để chống lại khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Ông nói:

“Năm 1945, nhân dân Việt Nam tuyên bố nền độc lập của mình… Họ được Hồ Chí Minh lãnh đạo. Dù họ đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ vào bản Tuyên ngôn độc lập của họ, chúng ta vẫn từ chối công nhận họ. Thay vào đó, chúng ta quyết định ủng hộ Pháp trong việc tái chiếm thuộc địa cũ… Với quyết định bi thảm đó, chúng ta đã bác bỏ một chính phủ cách mạng đang đi tìm quyền tự quyết, một chính phủ được thành lập bởi chính những lực lượng bản xứ, trong đó bao gồm một số người cộng sản…

Trong chín năm sau đó, chúng ta khước từ quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. Trong suốt chín năm, chúng ta ủng hộ mạnh mẽ Pháp trong nỗ lực đặt lại ách thực dân lên đất nước Việt Nam. Trước khi chiến tranh kết thúc, chúng ta trang trải 80% chi phí chiến tranh cho Pháp.

Ngay trước khi thua ở Điện Biên Phủ, Pháp đã bắt đầu tuyệt vọng về hành động liều lĩnh của họ, nhưng chúng ta thì không. Chúng ta khuyến khích họ bằng cách viện trợ một khối lượng khổng lồ tài chính và tiếp liệu quân sự để họ tiếp tục cuộc chiến ngay cả khi họ đã mất hết ý chí. Chẳng bao lâu, chúng ta hầu như trả toàn bộ chi phí cho ý đồ tái chiếm thuộc địa nầy”.



Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Chiến tranh Việt Nam được bắt đầu bởi CIA như thế nào

Em bé Napalm

Tác giả: Tony Bonn
Nguồn: The American Chronicle
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Nếu bạn là một người Mỹ bình thường, bạn có thể tin rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam là cuộc đấu tranh của tự do chống lại áp bức, lẽ phải chống lại sự sai trái, hay nó có liên quan theo một cách mơ hồ nào đó đến việc bảo vệ lối sống Mỹ. Điều không may là không một cái nào trong những lý do đó là sự thật. Trên thực tế, chúng là một phần của chiến dịch tẩy não nhằm đảm bảo sự ủng hộ của người dân Mỹ cho cuộc chiến tranh đẫm máu, xấu xa và không thể thắng lợi này. Sự thật là CIA đã tạo dựng ra cuộc chiến tranh này ngay từ đầu nhằm cung cấp vỏ bọc an toàn cho bao nhiêu hành động giết người máu lạnh dưới danh nghĩa chiến tranh.

Fletcher Prouty là một cựu đại tá Không quân Hoa Kỳ đã quá cố. Ông từng làm việc tại Lầu Năm Góc, có liên hệ chặt chẽ với CIA trong khoảng thời gian 1940 – 1960 và có cái nhìn bao quát tổng thể về sự phát triển của chính sách Hoa Kỳ trong thời tổng thống Eisenhower và sau đó. Trong cuốn sách JFK: CIA, Việt Nam và Âm mưu Ám sát John F. Kennedy (JFK: The CIA, Vietnam and the Plot to Assassinate John F. Kennedy), ông kể lại câu chuyện bẩn thỉu về việc các nhà tài phiệt Mỹ đã lên kế hoạch cho cuộc Chiến tranh Việt Nam trong nửa cuối của Thế Chiến II, và những giai đoạn khác nhau của cuộc chiến dẫn tới cuộc xâm lược khổng lồ của Hoa Kỳ vào bán đảo Đông Dương.

Trước khi mô tả khía cạnh chính trị và quân sự của cuộc chiến tranh, cần phác thảo bản chất địa lý xã hội của mảnh đất được biết dưới cái tên Việt Nam. Tất cả Việt Nam là một cộng đồng bộ tộc dựa trên liên minh lỏng lẻo giữa các làng xã và mối gắn kết trung tâm là việc thờ cúng tổ tiên và bản sắc dòng họ. Các làng xã chủ yếu tự cung tự cấp với mỗi gia đình thường làm nông nghiệp trên mảnh ruộng thuộc về gia đình trong nhiều thế kỷ. Lối sống này đã tồn tại trong hàng ngàn năm trước khi người Pháp đến vào cuối thế kỷ 18.

Trong bất cứ hoàn cảnh bình thường nào, người Việt cũng sẽ không bao giờ rời bỏ lối sống cổ xưa này, ngay cả dưới sự giám hộ của Pháp cũng vậy. Vùng phía bắc chủ yếu có các dân tộc bản địa Bắc Bộ và vùng phía nam là các dân tộc bản địa Nam Bộ. Hai nhóm dân tộc này khác nhau và không liên quan với nhau một cách tự nhiên, nhưng họ có những tập tục văn hóa tương tự. Nhóm người phía nam thịnh vượng hơn do là vựa lúa của châu Á. Tuy nhiên, những vùng này hoàn toàn không phải là quốc gia theo nghĩa hiện đại của từ này. Việt Nam là một vùng quản lý hành chính đối với người Pháp nhưng không có nghĩa gì đối với người Việt bản xứ. Nhưng điều này không ngăn được CIA giả vờ rằng miền nam Việt Nam tồn tại như một quốc gia thực sự.

Đến cuối thế kỷ 19, có hai thế lực ảnh hưởng chính trong khu vực - người Pháp và người Trung Quốc. Người Pháp kiểm soát hệ thống ngân hàng, cảnh sát, tòa án và các doanh nghiệp công nghiệp tham lam của họ như Michelin. Người Trung Quốc cung cấp dịch vụ thương mại trung gian, mua gạo dư thừa của người Việt, bán hàng hóa cần thiết cho đời sống và bạc cho khoản dư sau khi trao đổi gạo và hàng hóa.

Trong Thế Chiến II, người Nhật chinh phục được vùng này và áp đặt chế độ cai trị còn tàn bạo hơn người Pháp. Nhưng người Pháp đã chiếm lại và đặt lại chế độ cai trị của họ với sự giúp đỡ của một ít lực lượng vũ trang. Đến cuối Thế Chiến II, Hoa Kỳ gửi một lượng lớn vũ khí từ Okinawa đến Việt Nam, bề ngoài là để vũ trang cho Hồ Chí Minh và lực lượng Việt Minh của ông ta, những người đang cố gắng thiết lập một đất nước Việt Nam tự do - nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam - đồng thời bảo tồn phong tục tổ tiên của họ dưới sự bảo trợ của một chính phủ hiện đại. Tuy nhiên, CIA đã có lệnh phá hoại mối quan hệ Hoa Kỳ - Đông Dương này nhằm theo đuổi những mục đích cao hơn của cuộc Chiến Tranh Lạnh được lập kế hoạch từ trước khi thế chiến kết thúc.



Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

Vài suy nghĩ về tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng

Tác giả: Trần Thanh Nghị
Nguồn: Dân Luận

Tin trên VN Express ngày 14/3/2015 cho biết: "Sau gần 7 năm thi công, tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam sắp hoàn thành và có thể trở thành tượng đài lớn nhất Đông Nam Á với kinh phí xây dựng lên đến 411 tỷ đồng".

Trên Dân Luận cũng đăng lại bài viết "Cánh cò - Khoảng cách của sự ngạo mạn" đề cập đến tượng đài này. Xin trích: "Hình thức chính của tượng là chân dung của bà Nguyễn Thị Thứ, bà mẹ Anh hùng của 11 con cháu đã hy sinh..". Chi tiết hơn về bà Nguyễn Thị Thứ, Wikipedia cho biết: "Bà có chồng, 9 người con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại là liệt sĩ...". Bài viết sau là sự chia sẻ cảm nghĩ của tôi về tượng đài nói trên.

Với tâm tình của một người Việt Nam có gia đình, con cháu, tôi thấy bà Nguyễn Thị Thứ là một bà mẹ Việt Nam vô cùng đáng thương. Tôi kính trọng niềm đau và sự mất mát của bà và tôi thấy danh hiệu "anh hùng" mà người ta gán ghép cho bà chẳng những không thích hợp mà còn là một sự xúc phạm nặng nề đến phẩm cách và niềm đau của bà.

Thật vậy, bất kỳ ai trong chúng ta nếu có gia đình, con cái, đều biết một cách rõ ràng và thâm sâu về tình yêu vô bờ mà người cha, người mẹ dành cho con của họ. Đặc biệt trong hoàn cảnh góa bụa của bà Thứ khi một mình phải bương trải để nuôi dưỡng, bao bọc 9 đứa con không có sự giúp đỡ của người chồng.

Bất cứ bà mẹ nào trên thế giới lại không cuống quít lo âu khi thấy con mình lỡ bị dao cắt tay, chảy máu. Bất cứ người mẹ nào không thức thâu đêm suốt tháng khi con đau đớn nằm rên siết trong cơn bệnh. Có bà mẹ nào có thể ngủ ngon khi biết con mình đang trên đường đi đến chiến trường, mà phần sống thì ít mà phần chết thì nhiều! Chỉ những tai nạn tầm thường xẩy ra cho con, là trái tim người mẹ đã quặn đau, tấm lòng đã âu lo, kinh sợ... Nói chi khi những người con đi vào cõi chết!

Nỗi đau sẽ lớn đến thế nào nếu ta có một người con bị chết trong tuổi thanh xuân. Càng khủng khiếp hơn khi con mình chết trong đau đớn. Và kinh sợ nhường nào khi con mình bị giết chết bởi những viên đạn thù, những mũi lưỡi lê thấu tim hoặc những đòn tra tấn man rợ!

Bà Nguyễn Thị Thứ cũng như muôn vàn bà mẹ khác trên thế giới. Tôi chắc chắn rằng không bao giờ bà muốn bất cứ người con nào của bà bị đứt tay chảy máu vì một con dao nhỏ chứ đừng nói đến đứa con ấy bị người ta giết chết bằng súng, bằng lựu đạn, bằng bom!

Nhưng việc ấy đã xẩy ra. Không phải với một đứa mà với cả một đàn con 9 đứa. Tôi dám chắc rằng nếu điều ấy xẩy ra cho bất kỳ ai trong chúng ta, chúng ta sẽ phát điên, hoặc ít nhất sẽ bị tâm thần, không thể bất nhân đến mức thấy một đứa con bị giết, lại tiếp tục đẩy đứa thứ hai ra đi, để rồi lại bị giết! Cứ như vậy lập đi lập lại đến 8 lần trong cuộc đời khốn khổ.

Tôi hoàn toàn không tin bà muốn như vậy. Rõ ràng là bà phải chịu như vậy. Phải ngậm đắng nuốt cay mà chịu như vậy. Phải tan nát con tim mà chịu như vậy!

Câu hỏi đặt ra là: Chính những đứa con đã tự ý hay có bộ máy nào đã xúi bẩy những đứa con quay mặt với nỗi đau của bà? Quyền lực nào đã cướp trên tay bà những đứa con bà yêu dấu hơn chính bản thân? Đây không chỉ là sự mất mát mà còn là nỗi kinh hoàng, là sự tuyệt vọng và sau đó sẽ là sự thống hối, kể từ khi đứa con đầu tiên vừa kêu hai tiếng "Mẹ Ơi" vừa ôm ngực gục xuống, cùng giòng máu phọt ra từ trái tim luôn thổn thức vì muốn về với mẹ!



Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Vụ xuyên tạc về "em bé napalm" bởi truyền thông Ukraine

Tác giả: Phan Hồng Hà
Nguồn: Soha.vn

LTS: Trang Sputnik News Việt ngữ ngày 8/3/2015 vừa qua đã đăng tải bài viết của nhà báo Alexei Syunnerberg với tựa đề “Ai ném bom xuống ngôi làng của ‘em bé napalm’”?

Trong bài viết này, tác giả cho biết trang web “Ukraine Today” của Ukraine hôm 5/3 đã đăng một bài báo có những thông tin xuyên tạc trắng trợn, đổ lỗi cho quân đội miền Bắc Việt Nam trong sự kiện xảy ra ở Trảng Bàng, Tây Ninh 44 năm về trước.

Để tìm hiểu về sự việc gây phẫn nộ mạnh mẽ này, thông qua một đồng nghiệp hiện đang ở Moscow, chúng tôi đã tìm cách liên hệ được với nhà báo Alexei Syunnerberg.

Theo hẹn trước, 16h ngày 13/3, chúng tôi nối được điện thoại với ông Syunnerberg, người từng hơn 20 năm giữ chức Trưởng Ban Việt ngữ Đài Tiếng nói nước Nga, hiện là phóng viên của Hãng tin Sputnik.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Nga. Như đã hứa với bạn đọc, sau đây là các thông tin mới nhất chúng tôi nhận được từ nhà báo Alexei Syunnerberg.

PV: Xin chào Alexei Sergeevich , độc giả Việt Nam sau khi đọc được bài báo của ông trên Sputnik, muốn được biết thông tin quanh bài viết “xuyên tạc sự thật” của Ukraine Today...

Alexei Syunnerberg (A.S): Vâng, tôi hiểu. Sự thể thế này: Bài của Ukraine Today tôi đọc được hôm 5/3 và sau đó đã viết bài báo mà các bạn đã đọc được trên trang của chúng tôi.

Khi đọc, tôi đã chụp màn hình bài báo đó của Ukraine Today, bài báo bằng tiếng Nga, đề thời gian là 13h57 phút ngày Thứ Năm 5/3/2015. Bản chụp đó tôi vẫn còn giữ, có thể gửi cho anh.

Sau ngày 8/3, các anh đã hỏi tôi về đường dẫn đến bài báo đó, hôm thứ Ba (tức 10/3), khi tôi vào trang Ukraine Today để tìm đường dẫn cho anh thì không còn tìm thấy bài đó nữa...

Ảnh chụp bài viết mà trang Ukraine Today đăng ngày 5/3