Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

CIA và chiến dịch bôi nhọ Putin trên báo chí phương Tây

Tác giả: Hoài Thanh
Nguồn: Báo Tin tức

Trao đổi với phóng viên hãng tin RIA Novosti, Paul Craig Roberts, cựu Thứ trưởng tài chính Mỹ dưới thời Tổng thống Reagan nhìn nhận, CIA là bậc thầy trong việc bài xích, nói xấu, hạ bệ lãnh đạo, lãnh tụ nắm quyền trong các thể chế mà họ không vừa lòng. Lá bài này đã được sử dụng và góp phần vào “thành công” lật đổ nhà lãnh đạo đắc cử Iran Mossaddegh (1953), phế truất Thủ tướng Congo (1960), loại bỏ Tổng thống Guatemala, Arbenz (1954); gần đây nhất là việc loại Tổng thống Honduras Manuel Zelaya (2009); Tổng thống Ai Cập Mohamed Morsi (2013), Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych (2014). Mỹ cũng đã rất nỗ lực nhưng bất thành trong việc sử dụng chiêu bài này nhằm lật đổ Tổng thống Venezuela Hugo Chavez (2002), xa hơn nữa là Lãnh tụ Cuba Fidel Castrol, Tổng thống Indonesia Sukarno…

Ngày nay, mục tiêu mà Washington hướng đến chính là Tổng thống Vladimir Putin. Điều nực cười là ở chỗ, nó diễn ra vào đúng thời điểm mà uy tín của ông chủ Điện Kremlin hiện vượt xa bất kì một tổng thống Mỹ nào trong lịch sử. Nếu như Mỹ thực sự là một nền dân chủ, thì đó là nền dân chủ giả tạo. Trừ những nhóm lợi ích đang chi phối Nhà Trắng, chẳng có mấy ai ủng hộ chính quyền Mỹ. Nếu tiến hành bỏ phiếu trên toàn cầu, Mỹ sẽ là nước bị ghét bỏ nhất và là mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình thế giới.

Cựu Thứ trưởng Tài chính Mỹ nhìn nhận: Đương nhiên, người ta sẽ không bao giờ thấy sự xuất hiện của một bài viết phỏng vấn như thế này trên các ấn phẩm báo in hay truyền thông Mỹ, kể cả là truyền thông của Anh hay các nước phương Tây. Lý do có thể là vì, CIA “nắm đầu” tất cả các tên tuổi lớn trong ngành truyền thông - từ các phóng viên, biên tập viên uy tín cho đến đội ngũ giữ quyền điều hành các tòa báo, tổ hợp truyền thông. Chính Udo Ulfkotte, một cựu biên tập viên của tờ tạp chí nổi tiếng ở Đức Frankfurter Allgemeine Zeitung, đã thừa nhận rằng ông “được dạy cách nói dối, cách phản bội và không nói sự thật ra trước công chúng”.

Với kinh nghiệm từng đứng chuyên trang cho nhiều tờ báo, tạp chí của Mỹ, Đức, Pháp, Italy… ông Roberts chia sẻ đã “chứng kiến và trải nghiệm sự can thiệp và cấm đoán” mỗi khi các tờ báo định đăng tải điều gì đó mà Washington cho là không thích hợp. Theo ông, con đường thành công của báo chí ở phương Tây là nói dối để trở thành loa phóng thanh cho các thiết chế ở Washington, chủ yếu là các tổ hợp tư nhân, kết hợp với các tổ chức tình báo-an ninh bí mật, có sự bảo trợ của những nhân vật theo đường lối tân bảo thủ nuôi tham vọng bá quyền Mỹ.



Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Lobaczewski và nguồn gốc môn Tà Ác Học Chính Trị

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net

Bắt đầu ngay sau Thế Chiến II và tiếp tục trong những thập kỷ sau khi chế độ độc tài Xô viết được áp đặt lên các nước Đông Âu, một nhóm các nhà khoa học - chủ yếu là người Ba Lan, Cộng hòa Séc và Hungary - đã bí mật hợp tác trong một nghiên cứu khoa học về bản chất của chế độ độc tài. Bị các cơ quan an ninh quốc gia ngăn chặn không được tiếp xúc với phương Tây, công trình nghiên cứu của họ bị giữ kín trong bóng tối, ngay cả khi những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ như Hervey Cleckley và Gustave Gilbert đang bỏ công sức tìm hiểu về cùng một vấn đề.1 Thành viên sống sót cuối cùng của nhóm này, một nhà tâm lý học và chuyên gia về thái nhân cách người Ba Lan tên là Andrew Lobaczewski (1921 – 2007), cuối cùng đặt tên môn khoa học mới của họ - tổng hợp các nghiên cứu về tâm lý, tâm thần, xã hội học, lịch sử - là “tà ác học” (ponerology), một thuật ngữ ông vay mượn từ các linh mục của Tu viện Benedictine tại làng Ba Lan lịch sử Tyniec. Xuất phát từ từ poneros trong kinh thánh Tân Ước tiếng Hy Lạp, từ này gợi đến cái ác bẩm sinh có ảnh hưởng làm hư hỏng mọi thứ xung quanh, một mô tả rất phù hợp cho chứng thái nhân cách và những ảnh hưởng xã hội của nó.

Những gì chúng ta biết về nghiên cứu này đến từ một số rất ít nguồn. Sợi dây liên lạc duy nhất của Lobaczewski với các nhà nghiên cứu khác là thông qua Stefan Szuman (1889 – 1972), một giáo sư đã nghỉ hưu, người có nhiệm vụ chuyển những tóm tắt kết quả nghiên cứu giữa các thành viên ẩn danh trong nhóm. Hậu quả của việc bị phát hiện tiến hành loại nghiên cứu bị cấm này là rất nghiêm trọng. Các nhà khoa học có thể bị bắt giữ, tra tấn, thậm chí là giết hại. Do vậy việc giữ bí mật nghiêm ngặt trong nhóm nhỏ của họ là tuyệt đối cần thiết. Họ giữ gìn cho bản thân và công trình nghiên cứu bằng cách chia sẻ kết quả nghiên cứu ẩn danh. Bằng cách này, nếu có ai bị bắt và tra tấn, người ấy cũng không thể tiết lộ tên tuổi và nơi ở của những người khác, một mối đe dọa rất thực tế với an toàn cá nhân và khả năng hoàn thành công trình nghiên cứu. Lobaczewski chỉ tiết lộ tên của hai giáo sư người Ba Lan thuộc thế hệ trước, những người tham gia vào giai đoạn đầu của nghiên cứu - Stefan Blachowski (1889 - 1962) và Kazimierz Dabrowski (1902 – 1980).2 Blachowski chết trong hoàn cảnh đáng ngờ và Lobaczewski phỏng đoán ông đã bị ám sát bởi mật vụ nhà nước do tham gia vào công trình nghiên cứu này. Dabrowski xuất cảnh và do không muốn từ bỏ quốc tịch Ba Lan của mình để làm việc ở Hoa Kỳ, ông đã nhận một vị trí tại trường Đại học Alberta, Canada, nơi ông có thể giữ hai quốc tịch. Nếu đọc kỹ những tác phẩm xuất bản bằng tiếng Anh của Dabrowski, chúng ta có thể thấy nền móng lý thuyết của những gì sau này trở thành môn tà ác học.3

Cũng như Lobaczewski, Dabrowski coi chứng thái nhân cách là “trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của cá nhân cũng như tổ chức xã hội”.4 Ông cảnh báo, “Sự thiếu nhận thức về bản chất tâm lý của các cá nhân như vậy [tức là những kẻ thái nhân cách] gây ra những đau khổ, kinh hoàng không kể xiết, từ bạo lực, chiến tranh, diệt chủng cho đến sự hủy hoại của nền văn minh nhân loại... Chừng nào sức mạnh quyến rũ, thôi miên của kẻ thái nhân cách còn chưa bị đối diện với sự thật và những hậu quả về mặt luân lý cũng như thực tiễn của việc đi theo tiếng gọi quyến rũ thôi miên ấy, thì ngay cả những nhóm hay tổ chức xã hội lớn cũng có thể đi vào con đường thoái hóa, suy đồi.5 Trong một lần đề cập có lẽ là đầu tiên đến thái nhân cách trong chính trị, ông nhận xét rằng sự thái quá của tham vọng cùng ham muốn quyền lực, tiền bạc “thể hiện đặc biệt rõ ở thái nhân cách trong chính trị”:6



Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

Chủ nghĩa phát xít mới ở Ukraina và chính sách đối ngoại Hoa Kỳ

Phát xít mới ở Ukraina

Tác giả: William Blum
Nguồn: The Anti-Empire Report
Nguồn dịch: Hiệp sĩ cưỡi lừa

Ukraina và chủ nghĩa phát xít mới

Kể từ khi cuộc biểu tình nghiêm trọng nổ ra ở Ukraina vào tháng hai, truyền thông chính thống phương tây, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, đã che dấu sự thật về việc nghi phạm thường trực – chế độ tam hùng Hoa Kỳ /Liên Minh Châu Âu /NATO – đứng cùng phe với Phát xít mới. Ở Hoa Kỳ điều đó gần như không được phép đề cập. Tôi chắc chắn rằng một cuộc khảo sát thực hiện ở Hoa Kỳ về chủ đề này sẽ cho thấy hầu hết dân Mỹ không biết đến hàng loạt các hoạt động của Phát xít mới, bao gồm lời công khai kêu gọi giết “Người Nga, Cộng Sản và Do Thái”. Nhưng tuần vừa qua, bí mật nhỏ bẩn thỉu này cũng ló đầu ra khỏi bức màn che một chút.

Vào ngày 9 tháng 9, trang NBCnews.com đưa tin “Truyền hình Đức đăng các biểu tượng phát xít trên mũ sắt của binh lính Ukraina”. Truyền hình Đức đã đăng hình ảnh của một người lính mang mũ sắt chiến đấu với ký hiệu “SS rune” của đơn vị cảnh sát tinh nhuệ mặc đồng phục đen dưới thời Hitler. (Rune là một loại ký tự của người Đức cổ). Một người lính khác mang hình chữ thập ngoặc trên mũ sắt.

Vào ngày 13, tờ Washington Post đăng tải các bức ảnh chỗ ngủ của một thành viên tiểu đoàn Azov, một trong những đơn vị bán quân sự Ukraina đang tấn công người ly khai thân Nga. Trên tường phía trên giường ngủ là một biểu tượng chữ thập ngoặc lớn. Đừng lo, tờ Post trích dẫn lời của trung đội trưởng cho rằng việc binh lính tôn thờ biểu tượng của chủ nghĩa cực đoan chỉ là một kiểu ý tưởng “lãng mạn”.

Vậy mà tổng thống Nga Vladimir Putin bị so sánh với Adolf Hitler bởi tất cả mọi người từ Hoàng tử Charles tới Công chúa Hillary chỉ vì đã sáp nhập Crimea vào Nga. Về câu hỏi đó, Putin tuyên bố:

Nhà cầm quyền Crimea đã dựa trên tiền lệ Kosovo được nhiều người biết đến, một tiền lệ mà các đối tác phương Tây của chúng ta tự tạo ra với bàn tay của họ, có thể nói như vậy. Trong một tình huống hoàn toàn tương tự với Crimea, họ coi sự tách rời lãnh thổ Kosovo ra khỏi Serbia là hợp pháp, tuyên bố ở khắp nơi rằng một vùng lãnh thổ không cần đến sự cho phép của chính quyền trung ương để đơn phương tuyên bố độc lập. Tòa án quốc tế của Liên Hiệp Quốc, dựa trên đoạn 2, điều 1 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đã đồng ý với điều đó, và trong quyết định ngày 22 tháng 7 năm 2010 đã ghi nhận như sau, tôi trích dẫn nguyên văn: “Không có sự ngăn cấm nói chung nào có thể suy diễn từ thực tiễn của Hội Đồng Bảo An liên quan đến việc tuyên bố độc lập đơn phương”.

Câu chuyện Putin giống như Hitler vẫn còn chưa bằng câu chuyện về Putin là kẻ xâm lược. Hàng tháng trời này, truyền thông phương Tây đã giong trống về việc Nga (đã) xâm lược Ukraina. Tôi đề nghị bạn nên đọc bài: “Làm thế nào bạn biết Nga đã xâm lược Ukraina hay chưa?” của Dmitry Orlov.

Nhận xét: Đại ý của bài viết của Dmitry Orlov là sức mạnh quân sự của Nga lớn hơn của Ukraina nhiều đến nỗi nếu Nga thực sự quyết định tấn công Ukraina, bản tin đầu tiên bạn đọc được về nó sẽ là 100.000 quân Nga đang tiến gần đến thủ đô Kiev với đầy đủ không quân yểm trợ, chứ không phải tin về vài nhóm quân nhỏ mà báo chí phương Tây nói đến nhưng không đưa ra một bằng chứng xác thực nào.

hãy nhớ trong đầu NATO đang bao vây Nga. Thử tưởng tượng Nga thiết lập căn cứ quân sự ở Canada và Mexico, từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương. Hãy nhớ lại xem căn cứ Soviet ở Cuba đã gây ra điều gì.



Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Báo chí Việt Nam xuyên tạc lời tổng thống Putin về vụ giúp Yanukovich chạy khỏi Ukraina

Tổng thống Putin tại diễn đàn Valdai

Tác giả: Dương Thành
Nguồn: Google.Tienlang

Hôm thứ bảy, hầu hết các cơ quan báo chí Việt Nam đều đưa tin về lời công khai thừa nhận rằng Nga đã giúp Cựu Tổng thống Ukraina bỏ chạy sang Nga. Ví dụ, VOV có bài Tổng thống Nga Putin thừa nhận giúp ông Yanukovych chạy khỏi Ukraine, Kiến Thức có bài TT Putin thừa nhận giúp cựu TT Ukraine Yanukovych chạy trốn, Infonet có bài Putin thừa nhận 'cứu vớt' Yanukovych chạy khỏi Ukraine, VnExpress có bài Putin thừa nhận giúp cựu tổngthống Ukrainechạy trốn.... Điều đáng ngạc nhiên là một bài phát biểu của một nguyên thủ quốc gia nhưng các nhà báo VN không chịu dịch từ chính lời của Putin trong video clip hoặc tìm đọc bản gốc lời phát biểu được đăng tải trên trang web Tổng thống Nga hoặc chí ít thì cũng tìm đọc các bài tường thuật của các hãng truyền thông Nga, ví dụ trang này: Путин рассказал, как Россия помогла Януковичу покинуть Киев и блокировала украинские войска в Крыму.

Tại sao các nhà báo VN không dịch từ bản gốc tiếng Nga mà đều phải dịch qua bản tiếng Anh của các hãng truyền thông phương Tây? Chúng tôi chưa nói đến sự cố tình xuyên tạc lời ông Putin của các hãng truyền thông phương Tây trong cuộc chiến thông tin giữa Nga với Mỹ và phương Tây xung quang cuộc khủng hoảng Ukraina hiện nay mà chỉ nói tới một nguyên tắc dịch thuật là phải dịch từ bản gốc. Khi đã dịch từ một bản dịch thì dứt khoát không còn độ chính xác vì "tam sao thất bản".

Điều này, chị Ni Na- một chuyên gia dịch Tiếng Nga đã nêu ý kiến trên Google.tienlang hồi tháng 6/2014 trong bài Báo Vietnam+ Nhét Chữ Vào Miệng Putin.

Cụ thể trong vụ giúp Cựu Tổng thống Yanukovich chạy trốn, các bài báo trên báo chí VN chỉ nói đến việc Putin giúp Yanukovich như sự "thú nhận" về sự can thiệp vào tình hình Ukraina. Trong khi đó, báo chí VN đã lờ đi một thông tin mấu chốt, đặc biệt quan trọng về sự lật lọng của Mỹ và phương Tây. Sự lật lọng này chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khủng hoảng Ukraina. Đó là khi rời thủ đô Kiev, cựu Tổng thống Yanukovich dự định đến Kharkov dự một Hội nghị với những người đồng chí của mình trong Đảng Các Khu vực chứ không phải chạy trốn khỏi Kiev. Putin kể lại, buổi chiều ngày 21/2/2014, Tổng thống Yanukovich đã ký một Thỏa thuận nổi tiếng với phe đối lập.



Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Tiết lộ mới về Cái Chết Đen: Mối liên quan vũ trụ

Địa ngục trần gian: Bức tranh Chiến thắng của Thần chết của họa sĩ Pieter Bruegel
lột tả cảnh hoang tàn và nỗi kinh hoàng sau đại dịch Cái Chết Đen ở châu Âu thời Trung Cổ

Tác giả: Laura Knight-Jadczyk
Nguồn: Sott.net

Điểm mục sách: Tiết lộ mới về Cái Chết Đen: Mối liên quan vũ trụ (New Light on the Black Death: The Cosmic Connection) bởi nhà nghiên cứu vòng tuổi cây Mike Baillie tại trường Đại học Nữ Hoàng, Belfast, Bắc Ailen.

Tôi vừa đọc xong cuốn này và tất cả những gì tôi có thể nói là Wow! Đây là một cuốn sách cường độ cao! Không dài, chỉ 208 trang bao gồm cả phụ lục. Cách viết rất chặt chẽ và kinh tế, không một từ bỏ phí hay lan man nhàn rỗi nào. Mỗi ví dụ và mạch rẽ tạm thời đều cần thiết để xây dựng nên luận điểm chính, đó là - bạn đã ngồi vững chưa - Mike Baillie (vâng, một nhà khoa học thực thụ chứ không phải là một kẻ lập dị vớ vẩn nào đó) nói rằng Cái Chết Đen, một trong những đại dịch làm chết nhiều người nhất trong lịch sử nhân loại, giết hại 2/3 toàn bộ dân số châu Âu, chưa kể hàng triệu người nữa trên khắp hành tinh, có nhiều khả năng không phải do dịch hạch mà được gây ra bởi sao chổi!

Ồ đúng vậy! Chuyện hoang đường phải không?

Chưa chắc. Baillie có bằng chứng khoa học để hỗ trợ cho lý thuyết của mình, và bằng chứng của ông hỗ trợ - và được hỗ trợ bởi - những gì người thời đó thuật lại: động đất, sao chổi, mưa lửa, bầu không khí hư hoại, và chết chóc ở mức độ gần như không thể tưởng tượng nổi. Hầu hết mọi người ngày nay không biết mấy về những gì chỉ mới xảy ra 660 năm trước.

Quay lại chủ đề, Trung Quốc, nơi được cho là nơi khởi nguồn của Cái Chết Đen, mất khoảng một nửa toàn bộ dân số (từ 123 triệu xuống còn 65 triệu người).

Nghiên cứu gần đây về con số tử vong ở châu Âu cũng cho ra con số 45% - 50% tổng dân số châu Âu chết trong thời gian bốn năm, mặc dù tỷ lệ này thay đổi từ địa điểm này đến địa điểm khác (đây là vấn đề chúng ta sẽ xem xét đến).

Ở vùng bờ biển Địa Trung Hải, bao gồm cả Ý, miền nam nước Pháp và Tây Ban Nha, nơi bệnh dịch hoành hành bốn năm liên tiếp, tỷ lệ tử vong là 70% - 75% toàn bộ dân số. (Quy đổi ra Hoa Kỳ hiện nay, nó tương đương với việc giảm số dân từ 300 triệu hiện nay xuống 75 triệu trong vòng 4 năm. Nó cũng đồng nghĩa với việc phải chôn 225 triệu xác chết!)

Tại Đức và Anh, tỷ lệ tử vong là 20%. Miền đông bắc Đức, Bohemia, Ba Lan và Hungary chịu tổn thất ít hơn nữa vì một lý do nào đó (có một số lý thuyết nhưng không cái nào là hoàn toàn thỏa đáng).

Không có ước tính nào cho Nga hay các nước vùng Balkans nên có vẻ như họ chịu tổn thất rất ít. Châu Phi mất khoảng 1/8 dân số (từ khoảng 80 triệu xuống 70 triệu). (Những con số này làm nổi bật một trong những vấn đề mà Baillie chỉ ra: sự thay đổi của tỷ lệ tử vong theo địa điểm.)

Nhưng cho dù tỷ lệ tử vong ở một địa điểm nhất định là bao nhiêu đi chăng nữa, điều không thể chối cãi là Cái Chết Đen gây ra số người chết lớn nhất so với bất cứ đại dịch nào khác trong lịch sử còn được ghi lại, và như Baillie chỉ ra, không ai thực sự biết nó là cái gì! Ồ tất nhiên, trong một thời gian dài, tất cả mọi người “biết rõ” nó là dịch hạch, vậy làm thế nào Baillie đi đặt dấu hỏi về thực tế được mọi người đều chấp nhận này? Hóa ra ông không phải là người duy nhất.



Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

Ukraine: Thêm một bước tiến tới thành quốc gia phát xít

Diễu hành phát-xít ở Ukraine

Nguồn: Tiếng nói nước Nga

Hôm qua, ở Ukraine đã xảy ra các sự kiện rất giống những gì đã từng có ở nước Đức vào đầu những năm 1930, khi các thế lực theo chủ nghĩa quốc xã ra sức cố gắng lên nắm chính quyền.

Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko đã ấn định Ngày hội mới – ngày 14 tháng 10 là Ngày Chiến sĩ Bảo vệ Ukraine. Vào ngày này năm 1943, tay sai của phát xít Đức Stepan Bandera đã thành lập quân đội nổi dậy của Ukraine (UPA), gồm những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã trở thành “nổi tiếng” với những vụ thảm sát người dân thường, chủ yếu là người Do Thái và Ba Lan.

Bình luận sự kiện này, một số nhà phân tích chính trị đã nói rằng, chắc là châu Âu sẽ phẫn nộ trước việc ấn định một ngày hội mới ở Ukraine tôn vinh chủ nghĩa quốc xã. Tuy nhiên, đây không phải là năm đầu tiên Ukraine tôn vinh Stepan Bandera, các nhà lãnh đạo Ukraine thường xuyên nói lên lời kêu gọi bài trừ người Nga, Do Thái và Ba Lan. Nhưng, châu Âu và Hoa Kỳ dường như không nghe thấy điều đó.

Tất cả điều này gợi nhớ về tình hình những năm 30 thế kỷ trước, khi lực lượng Quốc xã lên nắm chính quyền ở nước Đức bị tàn phá sau chiến tranh thế giới I. Mátxcơva đã thấy rõ nguy cơ này, nhưng, London và Paris đã bác bỏ đề xuất của Stalin thống nhất nỗ lực, cùng sát cánh với nhau để đấu tranh chống cơn dịch hạch màu nâu. Lý do rất đơn giản: London và Paris đã hy vọng rằng, nước Đức phát xít sẽ phát động chiến tranh chống Liên Xô, cái nôi của chủ nghĩa cộng sản, mà các nước lớn nhất trên thế giới coi Liên Xô là một mối đe dọa nguy hiểm hơn chủ nghĩa phát xít.

Và giờ đây, ở Ukraine bị hủy hoại dưới chế độ của các tổng thống không đủ năng lực và do vô số Maidan, chủ nghĩa quốc xã đã trỗi dậy. Mátxcơva cảnh báo rằng, diễn biến sự kiện theo hướng này có thể mang lại hậu quả tồi tệ cho châu Âu, nhưng, không ai nghe lời cảnh báo này. Các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu trên lời nói ủng hộ nền dân chủ và tự do, nhưng, trên thực tế không quan tâm đến những tuyên bố vô nhân đạo vang lên từ Kiev không phải vì chính quyền Ukraine thề trung thành với lý tưởng dân chủ của châu Âu. Các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ không quan tâm đến tình hình thực tế với các quyền tự do và nhân quyền tại Ukraine. Đối với họ điều quan trọng nhất là các nhân vật theo chủ nghĩa quốc xã ở Ukraine, những người công khai trích dẫn lời Hitler, thù ghét nước Nga, cáo buộc Nga về sự đau khổ của Ukraine. Ví dụ, hôm qua, đại biểu quốc hội từ đảng cánh hữu "Tự do" Irina Fahrion đã tuyên bố: "Chúng ta chỉ có một con đường duy nhất - tiêu diệt Mátxcơva. Sống để hủy diệt Matxcơva là lý do tồn tại của chúng ta. Cần phải loại bỏ hố đen này còn là vì bình yên của châu Âu”.

Như được biết, London và Paris đã tính nhầm với Hitler – nước Đức đã bắt đầu cuộc đấu tranh cho sự thống trị thế giới với châu Âu chứ không phải với Liên Xô.



Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

Virus Ebola đột biến mạnh, đang thắng thế trong trận chiến với con người

Virus Ebola đang thắng thế

Nguồn: Tiếng nói nước Nga

Virus sốt Ebola đang bắt đầu biến đổi. Đã xác định được hơn ba trăm phiên bản của loại virus này.

Các nhà khoa học cho rằng những đột biến như vậy góp phần khiến cho bệnh lây lan nhanh chóng và cản trở phát triển ra một loại vắc xin phổ quát. Người đứng đầu sứ mệnh ứng phó khẩn cấp chống Ebola của Liên Hiệp Quốc Anthony Banbury thừa nhận rằng, trong trận chiến của nhân loại với Ebola, dịch Ebola đang thắng thế.

Virus Ebola đang nhanh chóng phát triển. Hiện nay, có 6 loại virus, mỗi loại trong số đó lại nhanh chóng phát triển thành các dạng nhỏ khác. Tại thời điểm này có bao nhiêu dạng virus đã được hình thành, không ai tính được chính xác. Chuyên gia virus học, người đứng đầu Phòng thí nghiệm Sinh học thuộc Viện nghiên cứu virus mang tên Ivanovski, Giáo sư Alexander Butenko cho biết:

“Ngoài loại virus đầu tiên, được phát hiện ở Zaire (nay là Congo) vào năm 1976, hiện có các kiểu gen khác nhau biến đổi từ nó. Đó là virus Ebola-Sudan. Một loại khác được phát hiện ở Côte d'Ivoire. Có loại được tìm thấy ở Uganda. Sau nữa, virus Reston được phân lập tại Hoa Kỳ và Ý từ những con khỉ Philippine. Gần đây nhất là kiểu gen virus Ebola được phân lập từ dơi ở Tây Ban Nha. Thành ra một nhóm virus không đồng nhất, khác hẳn với nguyên mẫu virus Ebola. Sự đa dạng đó cho thấy sự phát triển. Do đó, các đột biến nhất định diễn ra.”

Điều tồi tệ nhất là mỗi chủng virus lại đòi hỏi loại vắc-xin riêng. Ví dụ, trong một thời gian dài có loại vắc-xin chống virus Ebola-Zaire và Ebola-Sudan. Nhưng các vắc-xin này chỉ thành công đối với những chủng do chúng tạo ra. Tức là thuốc Ebola -Zaire là không hiệu quả trong tất cả các trường hợp sốt Ebola khác.

Cần phải có một loại vắc-xin tổng hợp. Giờ đây các chuyên gia trên toàn thế giới đang làm việc để chế tạo loại vắc-xin như vậy. Đã có những bước tiến triển, nhưng để sử dụng rộng rãi thì phải chờ khoảng sáu tháng hoặc một năm nữa. Mấy hôm trước, Trung Quốc quyết định gửi cho các quốc gia Tây Phi vắc-xin thử nghiệm JK-05, được phát triển tại Học viện Quân y Trung Quốc dành cho các nhu cầu của quân đội Trung Quốc trong trường hợp khẩn cấp. Và bây giờ các bác sĩ đang sẵn sàng thử loại vắc-xin cho chính mình trong trường hợp đe dọa lây nhiễm Ebola. Nhưng vắc-xin chưa được sử dụng rộng rãi vì chưa có giấy phép.

Trong khi đó, dịch bệnh ngày càng tăng. Tại Hoa Kỳ đã có hai trường hợp thứ nhiễm virus Ebola. Cả hai đều là nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân Liberia Thomas Duncan ở Texas. Duncan đã qua đời vào cuối tuần trước.