Hiển thị các bài đăng có nhãn hạnh phúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hạnh phúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Những "góc khuất" của Nhật Bản qua lăng kính một du học sinh Việt Nam

Tác giả: Chi Mai - Nguyễn Linh
Nguồn: Trí Thức Trẻ

Nguyễn Linh đã sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản gần 2 năm. Linh chia sẻ: "Mình đến để học, và để trải nghiệm. Trải nghiệm cuộc sống, con người, cách làm việc. Cho nên, trải nghiệm tốt cũng có, chưa tốt cũng có. Không biết có phải do hơi "đen đủi" hay lý do gì mà trải nghiệm chưa tốt có vẻ nhiều hơn...

Người đi làm ở Nhật được gọi là Zombie công việc.

Cảnh chen chúc trên tàu điện ngầm

Zombie công việc được chia thành nhiều loại. Loại phổ biến là zom shain, loại này hay mặc áo đen, quần đen, giầy đen, tóc cũng đen, mang theo chiếc cặp đen. Hoạt động chủ yếu từ 8h sáng đến 8h tối. Loại thứ 2 dễ bắt gặp là loại arubaito. Loại này hoạt động muộn hơn thường là 8 giờ sáng đến 18 giờ tối, có khi là nửa đêm hoặc tới sáng. Thứ 7, Chủ nhật họ làm việc thì đôi khi cả ngày.

Đặc điểm chung của các Zoombie này là: Mặt mày nhìn hốc hác. Mắt đỏ và thâm quầng. Khi lên tàu. Đi về thường ngủ lờ đờ chậm chạp. Nhưng 1 khi đã nhìn thấy công việc thì lao vào "cắn như điên" đến khi nào công việc "chết" hết thì thôi.

Ga tàu điện lúc 12 giờ đêm đông nghẹt người, dù giờ giấc đi làm ở Nhật là từ 8 giờ đến 18 giờ

Nói là Zombie vì người Nhật rất "điên cuồng" với công việc. Nếu bạn sống ở đây. Buổi sáng bạn sẽ thấy lúc nhúc những chấm đen di chuyển rất nhanh rất đều. Ăn mặc rất chỉnh tề. Nhưng tối về thì chỉ còn xơ xác. Đi lại khá vật vờ và khuôn mặt thì mệt mỏi. Nhiều người còn nằm luôn tại ga hay thường thì ngủ quên trên tàu.



Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Singapore: Ánh hào quang không thay thế được tình người

Tác giả: Charlotte Ashton
Nguồn: BBC tiếng Việt

Singapore vẫn có tiếng giàu có, đầy khát vọng và công nghệ cao, thu hút được nhiều nhân tài từ nước ngoài. Vì sao quốc gia này vẫn bị coi là một trong những nước tiêu cực nhất thế giới?

Lúc đó là Giáng Sinh, tôi và chồng đang đợi lấy hành lý ở sảnh đến sáng bóng tại sân bay Changi. Tôi kiểm tra tin tức trên mạng, và thú thực là không có tin vui nào cả.

“Xem này,” một người bạn đăng đường dẫn trên Facebook của tôi tới một khảo sát về 148 quốc gia, trong đó người Singapore được cho là thiếu lạc quan nhất thế giới.

Họ đội sổ cùng với người Iraq, Armenia và Serbia. “Chúc may mắn ở thành phố bất hạnh này nhé!” anh ta viết.

Trong vài tháng tiếp đó, một chiến dịch hạnh phúc bắt đầu ở đây. Chính trị gia Singapore khẳng định cam kết về hạnh phúc và công ty cung cấp dịch vụ di động Starhub tung ra chương trình quảng cáo “hạnh phúc ở khắp nơi,” gồm đầy hình ảnh người Singapore tươi cười, nhảy múa theo nhịp guitar rộn ràng.

Mặt dù vậy trên internet, vẫn có nhiều người tỏ‎ ý đồng tình với bản khảo sát, vì nó trùng khớp cảm giác của họ về cuộc sống khó khăn hơn, đắt đỏ hơn cùng lúc khi Singapore giàu có hơn.

Tôi chọn cách làm ngơ sự phóng đại của tâm lý quần chúng và tập trung nhiều hơn vào những trải nghiệm cá nhân. Và chắc chắn là tôi đã có nhiều trải nghiệm hạnh phúc.

Chẳng hạn như ở khu cắm trại ngoài trời tại những công viên gọn gàng của Singapore, lúc nào cũng đầy các gia đình và nhóm bạn vui vẻ, thưởng ngoạn cái nóng của đêm nhiệt đới bên thùng bia lạnh.

Và bà lão hàng ngày vẫn bán dứa tươi ngon lành cho tôi ở quầy thực phẩm gần nhà, đã ở độ tuổi 70, lúc nào cũng cười tươi rói dù không còn răng.

Ăn tối với những người bạn Singapore của tôi, không thấy họ kêu ca nhiều hơn người Anh.

Họ cũng phải vật lộn với giá nhà đất cao ngất ngưởng và phải nỗ lực tiến thân cao hơn trong công ty. Với người đến từ London, những việc đó không có gì là quá xa lạ.

Chúng tôi cũng quen dần cuộc sống trên hòn đảo nhỏ bé này, nơi có những tòa nhà cộng đồng trông như thành phố đồ chơi, tội phạm hầu như không có, và với chưa đầy 3 đôla Mỹ là có một tô mỳ ngon miệng.

Nếu đây là thủ đô bất hạnh của thế giới thì rõ ràng là nó không ảnh hưởng nhiều hạnh phúc của chúng tôi.

Cho tới khi tôi mang bầu.

Mười tuần ốm nghén liên tục khiến việc đi lại hàng ngày của tôi trở thành một cuộc tra tấn dài 45 phút.

Một buổi sáng, tôi chóng mặt kinh khủng ngay khi vừa bước vào toa tàu đông chật người. Sợ mình sẽ ngất lịm đi, tôi ngồi sụp xuống sàn, ôm lấy đầu.

Và tôi cứ ngồi thế, hoàn toàn bị bỏ mặc trong suốt 15 phút cho tới khi đến bến cần xuống. Không một ai nhường ghế cho tôi hay hỏi han xem tôi có làm sao không.

Lần đầu tiên Singapore khiến tôi thấy buồn. Tôi thấy mình mong manh, hoàn toàn dựa vào lòng tốt của người lạ. Người Singapore làm tôi thất vọng.



Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Viết để chữa lành

Nguồn: Đại học Texas tại Austin
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Trong gần 20 năm, tiến sĩ James W. Pennebaker giao cho mọi người một bài tập: viết xuống những cảm xúc sâu thẳm nhất của bạn về một chấn động tinh thần nào đó trong cuộc sống trong vòng 15 – 20 phút và làm vậy bốn ngày liên tục. Nhiều trong số những người làm theo hướng dẫn đơn giản của ông nhận thấy hệ thống miễn dịch của họ được tăng cường. Những người khác thấy điểm số của họ được cải thiện. Với một số người, toàn bộ cuộc sống của họ thay đổi.

Pennebaker, giáo sư khoa Tâm lý học tại trường Đại học Texas ở Austin và tác giả của nhiều cuốn sách trong đó có cuốn Mở Rộng Lòng (Opening Up)Viết để Chữa lành (Writing to Heal), là một người tiên phong trong nghiên cứu sử dụng việc viết bộc lộ cảm xúc để chữa lành. Nghiên cứu của ông cho thấy việc viết tập trung trong thời gian ngắn có thể có tác dụng tốt với tất cả mọi người, từ những người đang phải đối phó với bệnh hiểm nghèo cho đến nạn nhân tội ác bạo lực cho đến các sinh viên mới vào trường đại học.

“Khi mọi người được cho cơ hội viết về các chấn động tinh thần, họ thường thấy được cải thiện về sức khỏe,” Pennebaker nói. “Họ đến bác sĩ ít hơn. Họ có những thay đổi trong chức năng miễn dịch. Nếu họ là sinh viên năm thứ nhất, điểm số của họ có xu hướng đi lên. Nhiều người nói với chúng tôi sau đó hàng tháng trời rằng đó là một trải nghiệm rất có ích với họ.”

Trong nghiên cứu ban đầu của mình, Pennebaker chú ý đến việc những người có bí mật quan trọng thường dễ mắc một loạt vấn đề về sức khỏe. Nếu bạn có thể tìm được cách để cho những người ấy chia sẻ bí mật của họ, liệu các vấn đề sức khỏe của họ có được cải thiện không?

Hóa ra câu trả lời thường là có, và những người ấy thậm chí không cần nói bí mật của họ với ai khác. Hành động đơn giản viết về những bí mật đó, ngay cả khi họ thiêu hủy những gì họ viết ngay sau đó, có tác động tích cực đối với sức khỏe. Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy lợi ích đó không chỉ giới hạn ở những người có bí mật quan trọng, mà có thể áp dụng cả cho những người đang phải đối phó với việc ly hôn, bị mất việc hay thậm chí chỉ là phải đi làm xa.

“Các thăng trầm cảm xúc động động chạm đến mọi khía cạnh cuộc sống của chúng ta,” Pennebaker giải thích. “Bạn không chỉ có mất việc, bạn không chỉ có ly dị. Những thứ đó ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của con người bạn - tình hình tài chính của bạn, quan hệ của bạn với những người khác, cách nhìn của bạn về bản thân, suy nghĩ của bạn về cuộc sống và cái chết. Viết giúp chúng ta tập trung và sắp xếp lại các trải nghiệm đã qua.”

Tâm trí chúng ta luôn cố gắng để hiểu về những gì xảy đến với chúng ta. Khi một sự kiện chấn động nào đó xảy ra hay khi chúng ta trải qua một biến động lớn trong cuộc sống, tâm trí chúng ta phải tăng cường hoạt động để xử lý trải nghiệm đó. Nghĩ ngợi về sự kiện có thể khiến chúng ta không ngủ được, làm chúng ta mất tập trung khi làm việc, và thậm chí làm chúng ta không kết nối được với người khác.

Khi chúng ta chuyển một trải nghiệm sang ngôn ngữ, về cơ bản chúng ta đã làm nó trở nên dễ hiểu hơn. Nhiều người có thể thấy cải thiện trong cái gọi là “bộ nhớ hoạt động”, hay khả năng suy nghĩ về nhiều thứ cùng một lúc. Họ cũng có thể ngủ tốt hơn. Kết nối xã hội của họ cũng có thể cải thiện, một phần là vì họ có khả năng tập trung tốt hơn vào người khác ngoài chính bản thân họ.



Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Hôn nhân

Tác giả: Emily Esfahani Smith
Nguồn: The Atlantic
Dịch bởi Dấu hiệu Thời đại

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

John Gottman bắt đầu thu thập những phát hiện quan trọng nhất của ông vào năm 1986 khi ông thành lập “Phòng Thí nghiệm Tình yêu” với đồng nghiệp Robert Levenson tại trường Đại học Washington. Gottman và Levenson đưa các cặp mới cưới vào phòng thí nghiệm và quan sát họ tương tác với nhau. Cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu, họ nối những người tình nguyện vào các cực điện và đề nghị họ nói về mối quan hệ của mình, như là họ đã gặp nhau thế nào, một xung đột lớn mà họ đối mặt cùng nhau, một kỷ niệm tốt lành mà họ có. Trong khi họ nói, các cực điện đo lưu lượng máu, nhịp tim và lượng mồ hôi tiết ra. Rồi những nhà nghiên cứu cho các đôi đi về và hẹn gặp họ lại sáu năm sau để xem họ còn sống với nhau không.

Từ dữ liệu thu thập được, Gottman chia các cặp vợ chồng thành hai nhóm chính: nhóm bậc thầy và nhóm sa lầy. Nhóm bậc thầy vẫn sống hạnh phúc với nhau sau sáu năm. Nhóm sa lầy hoặc đã chia tay, hoặc thường xuyên không hạnh phúc trong hôn nhân của họ. Khi những nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu thu thập được, họ thấy sự khác biệt rõ ràng giữa nhóm bậc thầy và nhóm sa lầy. Nhóm sa lầy trông có vẻ bình tĩnh trong cuộc phỏng vấn, nhưng các thông số sinh lý của họ, đo bởi những điện cực, kể một câu chuyện khác hẳn. Nhịp tim của họ nhanh, các tuyến mồ hôi hoạt động và lưu lượng máu chảy nhanh. Theo dõi hàng ngàn cặp vợ chồng theo thời gian, Gottman thấy rằng các thông số sinh lý của những cặp vợ chồng càng cao trong phòng thí nghiệm bao nhiêu thì mối quan hệ của họ xấu đi nhanh bấy nhiêu theo thời gian.



Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Suy nghĩ tích cực không phải lúc nào cũng tốt cho bạn

Lạc quan và bi quan
Ly rượu vẫn còn một nửa hay ly rượu đã hết một nửa?

Tác giả: Tiến sĩ Adam Grant
Nguồn: Psychology Today
Nguồn dịch: Tâm Lý Học Tội Phạm

Nếu bạn muốn đạt được một mục tiêu lớn, cách suy nghĩ thông thường nói rằng hãy suy nghĩ tích cực. Tưởng tượng bản thân bạn có một bài thuyết trình tuyệt vời và hấp thu năng lượng của khán giả. Hình dung về một cuộc phỏng vấn xin việc lý tưởng, và tưởng tượng bản thân bạn đang trên 9 tầng mây khi bạn được nhận. Dù những chiến lược đó nghe có vẻ lôi cuốn, hóa ra chúng thường phản tác dụng. Nhiều người trong chúng ta thành công hơn khi chúng ta tập trung vào những lý do khiến chúng ta có thể thất bại.

Trong một loạt nghiên cứu thông minh, các nhà tâm lý Julie Norem và Nancy Cantor đã so sánh những ‘người lạc quan chiến lược’ và ‘những người bi quan tự vệ’. Nếu bạn là một người lạc quan chiến lược, bạn tưởng tượng về kết quả tốt nhất có khả năng xảy ra và sau đó hăm hở lập kế hoạch để thực hiện nó. Nếu bạn là một người bi quan tự vệ, ngay cả nếu bạn từng thành công trong quá khứ, bạn biết lần này có thể khác. Bạn bắt đầu tượng tượng về tất cả những việc có thể bất ổn. Điều gì xảy ra nếu tôi làm đổ café lên người phỏng vấn? Điều gì xảy ra nếu tôi vô tình có bài thuyết trình bằng tiếng nước ngoài? Điều gì xảy ra nếu tôi quên tên của mình?

Hầu hết mọi người giả định rằng những người lạc quan chiến lược thì làm tốt hơn những người bi quan tự vệ, vì họ thu được lợi ích từ sự tự tin và những kỳ vọng cao. Norem và Cantor phát hiện thấy những người bi quan tự vệ thì có nhiều lo lắng hơn và đặt ra kì vọng thấp hơn cho bản thân họ trong những nhiệm vụ phân tích, phát biểu và sáng tạo. Nhưng họ không hề thực hiện kém hơn.

“Lúc đầu, tôi không biết làm thế nào mà những người đó có thể làm rất tốt mặc cho sự bi quan của họ”, Norem viết trong cuốn The Positive Power of Negative Thinking (Sức mạnh Tích cực của Suy nghĩ Tiêu cực). “Chẳng bao lâu, tôi bắt đầu nhận ra họ đã làm tốt chính sự bi quan của họ…suy nghĩ tiêu cực biến lo lắng thành hành động.” Bằng cách tưởng tượng về những cảnh tồi tệ nhất, những người bi quan tự vệ thúc đẩy bản thân họ chuẩn bị nhiều hơn và cố gắng hơn.

Những người lạc quan chiến lược và những người bi quan tự vệ thành công dưới những hoàn cảnh khác nhau. Nếu bạn là một người bi quan tự vệ hoặc bạn đang cố gắng để thúc đẩy một người bi quan tự vệ, các chiến lược được chứng minh là có hiệu quả thường trái ngược với những gì bạn mong đợi.