Hiển thị các bài đăng có nhãn tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Xem phim khiêu dâm gây tổn hại não như nghiện ma túy

Tác giả: Tuấn Anh
Nguồn: VietNamNet

Mặc dù những người "ghiền" tranh ảnh, phim "nóng" biện minh rằng chúng giúp họ khám phá các mường tượng mới lạ về tình dục và gia tăng ham muốn "chuyện ấy", nhưng các nhà nghiên cứu phát hiện, chúng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của họ, kể cả gây nghiện và làm teo não.

Càng xem, càng nghiện

Cả quan hệ tình dục và việc xem sách báo, phim ảnh "nóng" đều dẫn đến việc giải phóng dopamine, chất dẫn truyền thần kinh chịu trách nhiệm về khoái cảm và sự tưởng thưởng. Tuy nhiên, hiện tượng dâng trào dopamine lặp đi lặp lại bằng cách thường xuyên xem văn hóa phẩm khiêu dâm cũng đồng nghĩa, bộ não sẽ bị "khử nhạy" trước những tác động của nó.

Một nghiên cứu của Đức, đăng tải trên tạp chí JAMA Psychiatry từng phát hiện, thường xuyên xem phim "nóng" dường như làm chai sạn phản ứng trước kích thích tình dục theo thời gian. Điều đó có nghĩa là, bộ não cần nhiều dopamine hơn để có thể cảm thấy cùng mức độ "cao hứng", khiến chủ nhân phải xem nhiều phim "nóng" hơn.

Một nghiên cứu xuất bản trước đó trên tạp chí Psychology Today cũng khám phá ra rằng, sự gia tăng dopamine này đồng nghĩa với người dùng các sản phẩm khiêu dâm bắt đầu cần các trải nghiệm kích thích cực điểm ngày càng tăng để có thể thấy "nóng trong người".

Sau một thời gian tiếp xúc với quá nhiều hình ảnh như vậy trong phim "nóng", mọi người sẽ bị "chai sạn" cảm xúc và ngày càng khó bị kích thích trước các tiếp xúc tình dục thông thường. Do đó, các nhà nghiên cứu nhận định, văn hóa phẩm đồi trụy đang tạo ra một thế hệ người trẻ ngày càng bất lực ở chốn phòng the.

Người ghiền phim "nóng" có trí não giống như kẻ nghiện ma túy

Kết quả soi quét não của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Cambridge (Anh) hé lộ, khi những người ghiền phim nóng xem các sản phẩm khiêu dâm, các vùng não gồm vùng vân bụng, vùng hạch hạnh nhân và vùng vỏ não đai trước của họ sáng lên. Chính những vùng não này cũng gia tăng hoạt động ở những người nghiện ma túy.

Phim "nóng" làm teo não

Trong một nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học Đức phát hiện, những người đàn ông ghiền xem phim khiêu dâm có thể đang tự làm teo não của họ. Cụ thể là, càng xem nhiều phim "nóng" vùng thể vân trong bộ não của họ, vốn gắn liền với động cơ và phản ứng tưởng thưởng, càng bị suy giảm kích cỡ.

Đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu khám phá ra một mối liên quan giữa việc thường xuyên xem văn hóa phẩm đồi trụy với sự tổn hại về thể chất. Tuy nhiên, họ nhấn mạnh rằng, có thể những người ghiền phim "nóng" sinh ra đã sở hữu một dạng não bộ nhất định nào đó.



Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Ngợi ca những linh hồn trống rỗng - Chúng ta có thể học từ kẻ thái nhân cách không?

Tác giả: Martha Stout
Nguồn: New Republic
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Nhận xét: Trong những năm gần đây, để đối phó với nhận thức ngày càng gia tăng về kẻ thái nhân cách và những gì chúng gây ra trong xã hội, nhiều thông tin giả mạo, sai lệch bắt đầu được tung ra để thao túng nhận thức của công chúng về chủ đề này. Một trong các luồng thông tin hỏa mù đó là xu hướng ca ngợi những "đức tính" của kẻ thái nhân cách và gợi ý rằng người bình thường chúng ta có thể học hỏi nhiều điều từ chúng, với ví dụ điển hình là cuốn sách Sự Khôn ngoan của Kẻ Thái nhân cách: Những gì Các Thánh nhân, Gián điệp và Kẻ Giết người Hàng loạt có thể Dạy Chúng ta về Sự Thành công (The Wisdom of Psychopaths: What Saints, Spies, and Serial Killers Can Teach Us About Success) bởi Kevin Dutton. Dưới đây là bài viết của Martha Stout, tác giả cuốn Kẻ Thái nhân cách ở Nhà bên, đập tan những luận điểm xuyên tạc trong cuốn sách trên của Dutton.

Để biết thêm về chứng thái nhân cách, mời các bạn xem Tập hợp các bài viết về chứng thái nhân cách trên blog này

Cách đây nhiều năm, khi còn là một sinh viên, tôi tham dự một số bài giảng của một nhà nhân chủng học nổi tiếng, người có tài cuốn hút người nghe với những câu chuyện kỳ lạ và hấp dẫn về một nhóm người bản địa mà ông đã sống cùng tại một góc xa xôi nào đó của hành tinh. Những mẩu chuyện đó rất gây ấn tượng. Thật vậy, một số mẩu chuyện tuyệt vời đến mức khi kết thúc bài giảng, tôi tin chắc rằng tôi vừa được nghe những sự thật trái với quan niệm thông thường nhưng rất quan trọng về hành vi con người. Chỉ đến bài giảng cuối cùng tôi mới có ý niệm mơ hồ rằng các “sự thật” này không có liên quan mấy với thực tế. Khá hân hoan trong sự khinh bỉ của mình, một trong những phụ giảng đang làm nghiên cứu sinh của ông ta thì thầm với tôi rằng, khi đi thực tế, nhà nhân chủng học đã cho người dân bản địa kẹo sôcôla để đổi lấy những câu chuyện về bản thân họ - câu chuyện càng khác thường bao nhiêu thì sôcôla càng nhiều bấy nhiêu. Các sinh viên đang say sưa ghi chép của ông ta trở thành ví dụ minh họa về việc tâm trí con người dễ dàng chấp nhận những điều kỳ lạ và hấp dẫn là chân lý khoa học đến mức nào.

Mặc dù không có lý do để nghĩ rằng kẹo sôcôla có vai trò gì ở đây, tôi lo ngại rằng một hiện tượng tương tự có thể xảy ra với các độc giả cuốn sách Sự Khôn ngoan của Kẻ Thái nhân cách bởi Kevin Dutton, một nhà tâm lý học tại trường đại học Oxford. Luận điểm bắt mắt của Dutton là thế này: “Thái nhân cách giống như là ánh sáng mặt trời. Tiếp xúc quá nhiều có thể đẩy nhanh con người đến hồi kết với căn bệnh ung thư khủng khiếp. Nhưng sự tiếp xúc có kiểm soát ở những mức độ tối ưu có thể có tác động tích cực đáng kể đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống.” Thái nhân cách, Dutton đề xuất, là “nhân cách với một nước da rám nắng đẹp đẽ”.

Kỳ lạ thay, không một lần nào trong cuốn sách về thái nhân cách này Dutton định nghĩa chính xác thái nhân cách là gì. Vì vậy, tôi sẽ làm vậy ở đây. Thái nhân cách là một hội chứng rối loạn của não bộ và hành vi, trong đó đặc tính trọng tâm là sự thiếu vắng hoàn toàn của lương tâm. Tất cả các đặc tính bệnh lý khác của nó (như nhẫn tâm, dối trá thường xuyên, và tàn ác) đều bắt nguồn từ sự thiếu vắng của lương tâm này. Thêm vào đó, như là dấu hiệu báo trước của những sai lầm lớn trong lập luận, Dutton không một lần nào thảo luận về khái niệm lương tâm, và trong toàn bộ cuốn sách, ông ta nhắc đến từ đó - lương tâm - tất cả bốn lần, mà cũng chỉ thoáng qua.

Cái mà Dutton đề cập đến là những phép ẩn dụ hào nhoáng, một số lượng hào phóng các câu chuyện cá nhân được viết cực kỳ tốt, và nhiều ám chỉ đến những nghiên cứu tâm lý và thần kinh hấp dẫn. Điều không may là hầu hết các nghiên cứu khoa học mà ông ta trích dẫn may ra thì có liên quan một cách lập lờ đến luận điểm của ông ta, tệ hơn thì hoàn toàn sai lạc. Nhìn chung, cuốn sách để lại cho độc giả ấn tượng rằng thái nhân cách bao gồm những đặc điểm như không biết sợ, bất cần đời, và một cuộc sống không bị gánh nặng bởi những gì người khác nghĩ. Hiện thực mang nghĩa đen hơn thế: Không ai có nghĩa gì với kẻ thái nhân cách.



Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Bắt nạt trên mạng: Những lời nói giết người

Bắt nạt trên mạng

Tác giả: Đức Hoàng
Nguồn: Tuổi Trẻ Online

Khái niệm bắt nạt bây giờ không còn là một cái cốc đầu của Chaien dành cho Nobita. Một hành động bắt nạt bây giờ có thể hủy hoại một con người - với sự cộng hưởng vô thức của một đám đông hình thành bởi Internet. Những cái chết trẻ vì không chịu nổi áp lực đã và đang xảy ra, ngay nơi bạn sống.

Nàng “Jane Doe” thời đại số

Ở Mỹ, những nhân vật vô danh hoặc buộc phải giấu tên vì lý do pháp lý được gọi là John Doe (đàn ông) hoặc Jane Doe (phụ nữ). Cái tên này ra đời dưới thời vua Edward III tại Anh từ thế kỷ 14, có thể tạm so sánh như cách gọi “anh A.” hoặc “chị B.” ở nước ta. Nạn nhân là nữ trong các vụ án lạm dụng tình dục được chính thức dùng tên “Jane Doe” tại tòa.

Vụ “Jane Doe” nổi tiếng nhất trong lịch sử tư pháp Mỹ là một cô bé 6 tuổi, bị chính cha ruột xâm hại tình dục, diễn ra năm 1984. Ở Massachusetts, một liên minh các tổ chức xã hội gọi là Jane Doe Inc. đã được lập nên để hỗ trợ các nạn nhân bị tấn công tình dục hoặc bạo hành gia đình.

Nhưng trong thời đại số, các “Jane Doe” có thể mang một số phận khác. Họ không bị tấn công ngoài đời mà trên mạng: đó là những cô gái bị tung ảnh nóng lên mạng xã hội, một trong những hình thức “cyber bullying” (bắt nạt/khủng bố bằng phương tiện số) phổ biến nhất.

Tòa án hạt trung tâm California tháng rồi vừa thụ lý một vụ “Jane Doe”. Cô là một sinh viên luật ở California, đã hẹn hò với một người đàn ông tại Virginia trong sáu tháng. Trong thời gian đó, họ trao đổi ảnh khỏa thân và các video riêng tư. Nhưng sau khi chia tay, người đàn ông tung ảnh đó lên mạng. Nàng Jane Doe nộp đơn ra tòa.

Những kịch bản “Jane Doe thời đại số” như thế phổ biến trên khắp thế giới. Ngay tại Việt Nam, một “chị L.” tại Hải Dương mới đây đã phải nhờ đến nhà chức trách sau khi bạn trai cũ của chị tung ảnh riêng tư của hai người lên mạng, kèm những lời đe dọa yêu cầu tiếp tục mối quan hệ. Tay này mới bị bắt tạm giam ngày 1-5 vừa qua.

Đây chỉ là vụ mới nhất trong một chuỗi hành xử ấu trĩ của rất nhiều chàng “John Doe” tại Việt Nam. “Nếu mày đã thích thái độ với bố mày thì bố mày cũng cho mày nổi tiếng luôn” - một nam thanh niên viết trên tài khoản cá nhân kèm theo loạt hình khỏa thân của bạn gái cũ hồi đầu năm nay.

Vấn đề của những nàng Jane Doe thời đại số khác hẳn các nạn nhân của tấn công tình dục trước kia: họ chỉ có thể được phép ẩn danh trước tòa án, chính quyền hoặc trên báo chí. Mà đây rõ ràng chỉ là một sự ẩn danh trên hình thức.

Trên các mạng xã hội, một khi vụ tấn công diễn ra, danh tính của họ đã được phơi bày hoàn toàn trước một đám đông không thể kiểm soát. Không điều gì có thể ngăn cản đám đông này phát tán các hình ảnh kèm danh tính, thậm chí địa chỉ và lịch sử cá nhân của họ.

Trong trường hợp này, công cụ để “áp bức/bắt nạt” đã trở thành một dạng nội dung số, hay chính xác hơn là nội dung khiêu dâm, thứ mà nhiều quốc gia, đơn cử như Mỹ, đã quyết định không kiểm soát vì đơn giản là... không thể kiểm soát.

Trong một ví dụ tiêu biểu khác, một cô giáo cấp II tại Thái Nguyên từng bị một người đàn ông chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook và đăng ảnh giường chiếu lên... chính Facebook của cô. Ngay trong buổi tối hôm đó, rất nhiều em học sinh và cả phụ huynh, vốn đang theo dõi cô giáo trên Facebook, bị đập vào mắt những bức ảnh này. Thông tin được lan ra nhanh chóng.

Rất nhiều bình luận bức xúc của cả học sinh lẫn phụ huynh xuất hiện. Sự việc hoàn toàn không thể vãn hồi. Không nhà báo nào “dám” tìm lại người giáo viên ấy để hỏi rằng cuộc sống của cô trở nên khốn khổ thế nào - chỉ biết chắc rằng đó là một sự việc vô cùng khủng khiếp.

Nói cách khác, Jane Doe ngày nay gần như không thể ẩn danh. Và đó chính là lý do khiến họ trở thành nạn nhân của một sự hành hạ lâu dài về tinh thần.



Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Không có Lương tâm: Ba câu chuyện về kẻ thái nhân cách trong đời thường

Rắn độc mặc complê

Tác giả: Giáo sư, tiến sĩ Robert D. Hare
Nguồn: Sách Không có Lương tâm (Without Conscience)
Nguồn dịch: Blog Some Stories

Không có Lương tâm - Chương 1: "Trải nghiệm" Kẻ Thái nhân cách

Những người tốt hiếm khi ngờ vực. Họ không thể tưởng tượng người khác làm những việc mà họ không thể làm. Họ thường chấp nhận những lời giải thích đơn giản là đáp án đúng, và để vấn đề dừng lại ở đó. Người bình thường có khuynh hướng tưởng tượng kẻ thái nhân cách có bề ngoài cũng kinh sợ như nội tâm của hắn. Điều đó hoàn toàn khác xa sự thật... Những con quỷ có thật này thường có vẻ ngoài và hành vi bình thường như những anh, chị, em bình thường khác của chúng, Chúng bày ra vẻ ngoài đức hạnh còn thuyết phục hơn cả đức hạnh chân chính có thể có; cũng giống như các bức tượng sáp hay những trái đào bằng nhựa trông hoàn hảo hơn trong mắt chúng ta, giống với hình ảnh của một người đẹp hay quả đào trong tâm trí ta tưởng tượng, hơn là bản gốc của chúng.

— William March, The Bad Seed

Tôi có thể thấy dòng máu đen từ miệng Halmea nhỏ giọt xuống tấm khăn trải giường gần phần cơ thể của cô bên dưới Hud. Tôi không động đậy hay chớp mắt, nhưng Hud đứng dậy cười toe toét với tôi trong khi hắn khóa lại cái thắt lưng màu ruby. "Một cô gái ngọt ngào đúng không?" hắn ta hỏi. Hắn huýt sáo và xỏ chân vào đôi bốt da đỏ. Halmea cong mình về phía bức tường...

— Larry McMurty, Horseman, Pass By

Sau nhiều năm, tôi đã quen với trải nghiệm sau đây. Để đáp lại câu hỏi nhã nhặn của người bạn cùng ăn tối về công việc của mình, tôi phác thảo vắn tắt các đặc trưng khác biệt của kẻ thái nhân cách. Luôn luôn, ai đó cùng bàn đột nhiên có vẻ trầm tư rồi kêu lên: "Trời đất -- tôi nghĩ ai đó và ai đó là thái nhân cách". Hoặc, "Ông biết không, trước đây tôi chưa từng nhận ra, nhưng người ông miêu tả giống hệt anh rể tôi".

Những hồi đáp lo lắng, trầm tư ấy không giới hạn trong các lĩnh vực xã hội. Thường xuyên, những người đọc công trình của tôi gọi cho phòng nghiên cứu để mô tả một người chồng, đứa trẻ, một người chủ, hay một người quen có những hành vi không thể giải thích được khiến họ sầu khổ và đau đớn trong nhiều năm.

Không gì cho thấy rõ ràng về sự cần thiết làm rõ và phản ánh về chứng thái nhân cách hơn những câu chuyện đời thực của nỗi thất vọng và sự tuyệt vọng. Ba câu chuyện trong chương này cung cấp một cách tiếp cận dễ dàng hơn đến chủ đề kì lạ và mê hoặc này bằng cách truyền tải cái cảm giác đặc trưng "có gì đó không ổn ở đây nhưng tôi không xác định chính xác được".

Một câu chuyện là từ nhà tù, nơi hầu hết các cuộc nghiên cứu về thái nhân cách diễn ra (vì lý do thực tế là có rất nhiều kẻ thái nhân cách trong nhà tù và những thông tin cần thiết để chẩn đoán chúng luôn có sẵn)

Hai câu chuyện còn lại là từ cuộc sống thường ngày, vì những kẻ thái nhân cách không chỉ ở trong tù. Cha mẹ, con cái, vợ chồng, người yêu, đồng nghiệp, và các nạn nhân không may mắn ở khắp mọi nơi vào lúc này đang cố gắng đối phó với sự hỗn loạn và bối rối mà những kẻ thái nhân cách gây ra và cố hiểu điều gì khiến chúng làm vậy. Nhiều người trong số các bạn có thể tìm thấy những điểm tương đồng đáng ngại giữa các cá nhân trong những ví dụ này và những người khiến bạn nghĩ rằng bạn đang sống trong địa ngục.



Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

10 điều những người có sức mạnh ý chí siêu việt làm khác người bình thường

Tác giả: Colin
Nguồn: Willpowered
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

“Những người này chắc phải là thánh nhân!”

Roy Baumeister, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về khoa học của ý chí, nghĩ vậy.

Ông và các đồng nghiệp nghiên cứu một số người ở Đức và Hà Lan, những người có vẻ như có sức mạnh ý chí không có gì cản nổi. [1]

Họ ăn uống lành mạnh.

Họ tập thể dục thường xuyên.

Họ được giáo dục tốt.

Họ thành công trong công việc của mình.

Họ dành được thời gian cho bạn bè và gia đình.

Và họ tường thuật về hạnh phúc và sự thỏa mãn trong cuộc sống của họ.

Thực sự là thánh nhân. Nhưng cho mục đích của bài viết này, tôi sẽ mạn phép gọi những người này là những người Giàu Ý chí.

Để tìm hiểu làm thế nào những người Giàu Ý chí này chống lại sự cám dỗ và vượt qua thói quen trì hoãn, các nhà nghiên cứu cho họ một thiết bị có nút bấm để bấm mỗi khi họ sử dụng đến sức mạnh ý chí trong ngày. Điều này sẽ giúp các nhà nghiên cứu biết những người Giàu Ý chí làm gì khác với người bình thường chúng ta.

Nhưng rồi một điều buồn cười đã xảy ra - họ hầu như không bao giờ bấm nút!

Các nhà nghiên cứu bối rối. Tại sao những người Giàu Ý chí này hầu như không bao giờ sử dụng đến sức mạnh ý chí của họ?

Câu trả lời là họ không cần đến nó. Họ sắp xếp cuộc sống của họ để tăng cường và bảo tồn sức mạnh ý chí của họ - khiến cho việc thực hiện các quyết định đúng đắn dễ dàng hơn.

Họ làm 10 thứ dưới đây khác những người bình thường chúng ta:

1. Tấn công

Có một uẩn khúc nhỏ trong câu chuyện về những người Giàu Ý chí ở Đức và Hà Lan. Nhiều người trong số họ thuật lại rằng nếu họ ngồi vào chiếc ghế sau quán rượu, họ sẽ không bao giờ rời đi được.

Những người khác thuật lại rằng họ không thể chống lại sự cám dỗ của đồ ngọt khi có chúng ở xung quanh. Có vẻ các “thánh nhân” này cũng dễ bị cám dỗ như những người bình thường chúng ta. [1]

Vậy, bí quyết của họ là gì?

Hóa ra, bí quyết của họ đơn giản là họ không đặt bản thân vào các tình huống đó. Cuộc sống của họ được tổ chức tốt để tránh phải đối mặt với sự cám dỗ.

Những người này chơi tấn công.



Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

Trầm cảm lan tràn như tiếng chuông cảnh tỉnh với nhân loại

Xã hội bệnh hoạn
Sống hòa nhập trong một xã hội bệnh hoạn sâu sắc không phải là dấu hiệu của tâm trí khỏe mạnh
- Jiddu Krishnamurti

Tác giả: Neil Maves
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Trầm cảm hiện đang được mô tả như một đại dịch thời hiện đại. Cả một đội quân các chuyên gia được đào tạo cao siêu đã đưa ra đủ loại giải pháp và tạo ra một thị trường dược phẩm khổng lồ với những cố gắng chữa trị căn bệnh của xã hội hiện đại, “văn minh” này của chúng ta. Bài viết này không phải là một thảo luận về tâm lý hay về những tài liệu tự trợ giúp sáo rỗng của những người không biết gì rao giảng từ trong tháp ngà của họ.

Hôm nay, chúng ta sẽ đi xuống chiến hào, vứt ra ngoài mọi thứ rác rưởi, xem xét vấn đề và vai trò của trầm cảm từ cách nhìn phi duy vật. Thông qua đó, biết đâu chúng ta lại chẳng khám phá ra “ý nghĩa của cuộc sống”.

Một số loại trầm cảm có quan hệ nhân quả rõ ràng: hôn nhân, gia đình, thất nghiệp, v.v… Loại trầm cảm này buộc chúng ta phải nhìn thẳng vào các vấn đề trong cuộc sống của chúng ta. Nó cũng tương đối đơn giản để giải quyết nếu chúng ta có thể đứng tách ra ngoài và xem xét những giải pháp hợp lý cho các yếu tố gây căng thẳng. Do đó, nó không tồn tại dai dẳng và thường sẽ qua đi ngay sau khi vấn đề trước mắt được giải quyết. Tuy nhiên, đấy không phải là loại trầm cảm mà chúng ta quan tâm đến ở đây.

Loại trầm cảm mà tôi quan tâm đến là loại tồn tại dai dẳng, loại khiến nạn nhân phải bỏ rất nhiều thời gian trong phòng các bác sĩ tâm lý và khiến họ phải dùng thuốc triền miên, đôi khi cả đời. Loại trầm cảm mà tôi đang nói đến là loại khiến nhiều người tìm cách tự vẫn, đôi khi nhiều lần trong cuộc đời họ. Nó vắt kiệt linh hồn ra khỏi bạn vì nó khiến bạn tin rằng thế giới này là một nơi hoàn toàn hư vô, trống rỗng. Không có mục đích, không có hy vọng, không có tương lai và không có ai hiểu. Chỉ có một thế giới lạnh lùng vô cảm, nơi mà nền văn hóa trong trường hợp tốt thì hời hợt, trong trường hợp xấu thì hoàn toàn thái nhân cách. Có cái hố đen bên trong bạn cứ lớn dần, lớn dần và lớn dần.

Làm thế nào và tại sao những người khá ổn định về tâm lý với một cuộc sống bình thường lại mang con quái vật này bên trong họ, cái cảm giác về một linh hồn bị tan vỡ mà không thể chữa lành bằng thuốc men hay những lý thuyết tâm lý mới nhất? Tôi nghĩ câu trả lời cho câu hỏi đó là ở sâu thẳm bên trong, ở một mức độ nhận thức nào đó, họ buộc phải nhận ra rằng cái thế giới “ngoài kia” là không ổn một cách cơ bản; rằng trên thực tế nó đã trở thành sân chơi cho những cá nhân thái nhân cách, những kẻ không có mục đích nào khác hơn là thỏa mãn sự thèm khát hủy diệt đen tối của chúng.

Thái nhân cách
Những kẻ thái nhân cách cai trị thế giới chúng ta
6% dân số thế giới là thái nhân cách. Bạn có biết điều đó nghĩa là gì không?


Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

"Không có lửa sao có khói", hay tư tưởng đổ lỗi cho nạn nhân tội phạm tình dục

Không ai trong số những phụ nữ này "âm thầm mong muốn điều đó"

Tác giả: Huỳnh Kim
Nguồn: Beautiful Mind VN

  • “Nếu bạn đã không muốn những bức hình của mình bị đánh cắp, bạn đã không nên chụp chúng.”
  • “Cô ấy đã nghĩ gì khi ra đường ăn mặc như thế?”
  • “Cô ấy đã có thể bỏ đi nhưng lại không làm thế, đó là lỗi của cô ấy khi bị bầm mắt.”
  • “Ý tôi là, thực sự mà nói, cô ấy đã như đang muốn nó khi để mình bị say như thế.”

“Không có lửa làm sao có khói”, chúng ta vẫn thường cho rằng nạn nhân là “lửa”, châm ngòi cho “khói” xảy ra với họ. Việc đó được gọi là đổ lỗi cho nạn nhân. Tư tưởng đổ lỗi nạn nhân cho rằng bằng một số hành vi cụ thể nào đó, nạn nhân đã âm thầm mong muốn tội ác xảy ra với mình. Một số hành vi “đáng trách” thường gặp bao gồm:

  • Đi chơi vào buổi tối.
  • Chụp hình khỏa thân.
  • Mặc quần áo bó, váy ngắn,…v..v.
  • Thích gần gũi.
  • Trở nên say xỉn.
  • ...

Điểm chung của những việc làm đó là gì? Những thứ mà chúng ta cho là “đáng trách” mà nạn nhân thực hiện để “mời mọc chuyện xấu xảy ra” thực ra lại là quyền lợi và quyền tự do mà mỗi con người đều có. “Con người” ở đây bao gồm cả phụ nữ. Việc đổ lỗi cho nạn nhân có rất nhiều dạng, đây là một số ví dụ:

  • “Danh tính của bạn bị đánh cắp ư? Tại sao bạn lại sử dụng thẻ tín dụng? Nếu bạn đã dùng tiền mặt thì chuyện đó đã không bao giờ xảy ra!”
  • “Họ đấm bạn vào mặt? Sao không biết né?”
  • “Bạn đã bị châm chọc? Lúc đó bạn mặc gì? Cái thứ đồ quê mùa đó ư? Pffffffft.”

  • “Ai cũng đang cố kiếm tiền. Bạn đâu có cần phải khoe là bạn có. Đó như là thách họ ăn cắp tiền của bạn vậy.”

Khi chúng ta đi theo chiều hướng đó, chúng ta đã quên mất rằng tên tội phạm mới thực sự là người gây ra tội ác chứ không phải là nạn nhân, quần áo hay những bức hình của họ. Tội ác xảy ra khi tội phạm lựa chọn để xâm phạm ai đó. Hiếp dâm, cưỡng hiếp, trộm cắp, quấy rầy, phát tán ảnh mang tính gợi dục mà không có sự đồng ý của chủ nhân, v.v... là những quyết định của một ai đó để xâm phạm một ai khác. Như đã nói ở trên, việc đổ lỗi cho nạn nhân có rất nhiều dạng, nhưng tôi sẽ tập trung vào việc nó ảnh hưởng đến các tội phạm tình dục.



Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Người ta có thể bị thuyết phục họ đã làm một việc họ chưa hề làm chỉ trong 3 giờ

Nguồn: Association for Psychological Science
Nguồn dịch: Tâm lý học Tội phạm

Nghiên cứu mới cho thấy chỉ trong vỏn vẹn vài giờ đồng hồ, những người trưởng thành vô tội có thể bị thuyết phục khiến họ tin rằng mình đã thực hiện một tội phạm nào đó trong những năm thanh thiếu niên – một số tội có thể nghiêm trọng như tấn công có vũ khí – ngay cả khi điều đó là hoàn toàn hư cấu.

Những người vô tội có thể bị cảnh sát thẩm vấn theo cách khiến cuối cùng họ tự thuyết phục bản thân là mình đã từng phạm tội. Và niềm tin đó có thể mạnh mẽ đến mức đôi khi họ ký giấy thú nhận sai với cảnh sát.

Đầu năm ngoái, một nhóm các luật sư và nhà thống kê đăng một bài báo nói rằng 4.1% các bị cáo bị tuyên án tử hình ở Mỹ bị phán xét sai lầm. Để điều tra hiện tượng này, một nghiên cứu dẫn đầu bởi nhà tâm lý học Julia Shaw từ đại học Bedfordshire ở Anh đã điều tra các nguyên nhân khả dĩ, và nhận thấy rằng, nếu bị tra hỏi “đúng cách” thì những người vô tội có thể tạo nên những câu chuyện trong tâm trí họ với đầy đủ các tình tiết đến mức họ có thể tự thuyết phục bản thân một cách sai lầm rằng họ đã phạm pháp.

“Những điều mà chúng tôi tìm ra cho thấy rằng ký ức sai về việc phạm tội có sự liên quan của cảnh sát có thể được tạo dựng một cách dễ dàng đến kinh ngạc, và có thể có tất cả các tình tiết phức tạp y hệt như ký ức thật sự”, Shaw nói trong một bài phỏng vấn. “Tất cả những gì mà những người tham gia trong cuộc nghiên cứu cần để tạo ra ký ức sai rất chi tiết là 3 giờ đồng hồ trong một môi trường thẩm vấn thân thiện, trong đó người thẩm vấn đưa ra một số chi tiết sai và sử dụng kỹ thuật truy cập trí nhớ kém.”

Shaw và đồng nghiệp của bà, nhà tâm lý pháp y Stephen Porter từ đại học British Columbia ở Canada, đã bắt đầu nghiên cứu bằng cách chiêu mộ 60 sinh viên đại học chưa từng có liên can hình sự nào. Các nhà nghiên cứu sau đó yêu cầu những người nuôi dưỡng họ điền một bảng câu hỏi mô tả một số sự kiện cụ thể mà những sinh viên này có thể đã trải qua trong khoảng thời gian từ 11 đến 14 tuổi, và liệt kê chi tiết đến hết khả năng trí nhớ của họ cho phép. Những câu hỏi này được giữ bí mật đối với các sinh viên.

Tiếp theo, những sinh viên tham gia được đưa tới phòng thí nghiệm để tiến hành ba cuộc thẩm vấn kéo dài 40 phút mỗi cuộc dàn trải trong khoảng thời gian 3 tuần.

Trong cuộc thẩm vấn đầu tiên, các nhà nghiên cứu mô tả sơ lược 2 sự kiện cho mỗi sinh viên, một sự kiện mà sinh viên đó đã trải qua trong độ tuổi thanh thiếu niên (chi tiết của sự kiện này được cung cấp bởi những người nuôi dưỡng), và một sự kiện giả chưa từng xảy ra.

Phân nửa những sự kiện giả này liên quan đến một tội nào đó có sự liên quan với phía cảnh sát, chẳng hạn như một vụ xâm phạm, tấn công có vũ khí hay trộm cắp. Một nửa các sự kiện giả còn lại bao gồm những việc như bị chó cắn hay bị một loại thương tật nào đó, hay bị mất số tiền lớn. Những sự kiện này trên thực tế chưa từng xảy ra, nhưng các nhà nghiên cứu lồng vào trong mô tả của họ các chi tiết thực về thời thanh thiếu niên của các sinh viên – ví dụ như tên của một người bạn ở thời điểm đó của họ – để làm cho những sự kiện giả nghe có vẻ thuyết phục.

Các sinh viên được yêu cầu giải thích những gì đã xảy ra với họ trong những sự kiên này. Dĩ nhiên, họ gặp trở ngại trong việc nhớ lại chi tiết của các sự kiên giả, nhưng được khuyến khích cố gắng nhớ lại, và các nhà nghiên cứu đề nghị họ thử một số chiến thuật gợi nhớ khác nhau để giúp họ “nhớ lại”.

Trong cuộc thẩm vấn lần 2 và 3 trong những tuần sau đó, các sinh viên lại một lần nữa được yêu cầu nhớ lại những gì đã xảy ra với họ trong các sự kiện thực lẫn các sự kiện giả. Trong lúc họ mô tả một số chi tiết nào đó theo trí nhớ của họ, họ được yêu cầu xác định xem những ký ức đó sống động đến mức nào, và họ tin là nó có thật đến mức nào.

Công bố kết quả của họ trong tạp chí Khoa học Tâm lý (Psychological Science), Shaw và Porter tìm ra rằng trong số 30 sinh viên được bảo rằng họ đã phạm tội trong thời niên thiếu, có 21 người – tương đương 71% – đã phát triển ký ức sai về quá khứ. Trong số 20 người được bảo rằng họ đã phạm tội xâm hại người khác, có hay không có vũ khí, 11 người đã có thể mô tả chi tiết đến kinh ngạc tương tác của họ với cảnh sát trong vụ việc – vốn dĩ không hề có thực.



Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Nghiên cứu cho thấy những kẻ thái nhân cách không học được từ việc bị trừng phạt

Khác biệt giữa não kẻ thái nhân cách và người bình thường
Sự khác biệt giữa não của kẻ thái nhân cách (phải) và người bình thường (trái).

Tác giả: Fiona MacDonald
Nguồn: Science Alert
Nguồn dịch: Tâm Lý Học Tội Phạm

Các tội phạm thái nhân cách bạo lực không rút kinh nghiệm được từ sự trừng phạt như hầu hết những người bình thường, một nghiên cứu mới trên ảnh MRI tiết lộ.

Sau khi quét ảnh não bộ của 32 tội phạm bạo lực, các nhà nghiên cứu người Canada và Anh phát hiện rằng những kẻ mắc chứng thái nhân cách có dị biến ở các khu vực não liên quan đến việc rút kinh nghiệm từ việc bị trừng phạt.

Nghiên cứu này vô cùng quan trọng trong việc tìm ra phương thức tốt nhất để ngăn chặn người ta phạm tội. “Một trong số 5 kẻ tội phạm bạo lực là thái nhân cách,” Sheilagh Hodgins, một trong những nhà nghiên cứu chính từ đại học Montreal nói trong phỏng vấn. “Chúng có tỉ lệ tái phạm cao hơn và các chương trình giáo huấn không mang lại lợi ích gì cho chúng. Nghiên cứu của chúng tôi vén màn bí mật tại sao lại như vậy.”

Nghiên cứu cũng làm nổi bật khác biệt trong não bộ giữa những tội phạm bạo lực thông thường và những tội phạm bạo lực mắc chứng thái nhân cách.

“Những tội phạm thái nhân cách khác biệt so với những người phạm tội thông thường ở nhiều khía cạnh. Các phạm tội thông thường có những đặc tính như phản ứng cực độ đối với sự đe doạ, nóng tính và hung hăng, trong khi những kẻ mắc chứng thái nhân cách có mức phản ứng rất thấp đối với sự đe doạ, lạnh lùng và sự hung hãn của họ là có suy tính và được lên kế hoạch,” Nigel Blackwood, đồng tác giả của nghiên cứu trên từ đại học King’s College London cho biết trong cuộc phỏng vấn. “Bằng chứng dần được củng cố cho thấy rằng cả 2 loại tội phạm trên đều có sự phát triển não bộ bất thường, nhưng khác nhau rõ rệt, từ khi còn bé.”

Trong nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành chụp ảnh MRI chức năng đối với 32 tội phạm bạo lực ở Anh, những kẻ đã bị bắt giam vì những tội như cưỡng hiếp, gây thương tật nghiêm trọng cho người khác và giết người. Trong số đó, 12 người được xếp vào dạng thái nhân cách, và 20 người còn lại là tội phạm thông thường. Nhóm nghiên cứu cũng so sánh ảnh quét não bộ của những kẻ phạm tội (cả 2 loại) với những người không phạm tội khỏe mạnh.

Bên trong máy MRI, các nhà nghiên cứu đã yêu cầu những người tham gia chơi trò tìm ảnh cặp – đôi khi họ được thưởng điểm cho việc tìm đúng cặp, nhưng đôi khi trò chơi sẽ thay đổi và họ sẽ bị phạt bằng cách trừ điểm nếu tìm đúng.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thấy rằng những kẻ phạm tội, bất kể là thái nhân cách hay không, đều kém hơn trong việc học hỏi từ các tín hiệu của sự trừng phạt, và đưa ra quyết định tồi tệ hơn, mặc dù tốn nhiều thời gian suy xét các lựa chọn hơn những người không phạm tội.

Nhưng khi các nhà nghiên cứu theo dõi những gì diễn ra trong não của những kẻ phạm tội trong thí nghiệm, họ thấy rằng có điều gì đó đặc biệt kỳ lạ xảy ra trong não của những kẻ thái nhân cách.

Khi trò chơi ngừng thưởng điểm cho việc tìm đúng cặp hình và bắt đầu phạt điểm cho việc đó, cơ chế não bộ có liên quan đến việc học tập từ sự trừng phạt ở những kẻ thái nhân cách có những bất thường “trong cả chất xám lẫn một số đường dẫn chất trắng,” Hodgins cho biết. Chất xám có liên hệ với việc xử lý thông tin và nhận thức, trong khi chất trắng điều khiển dòng thông tin giữa các vùng khác nhau của não.

Ngược lại, những kẻ phạm tội không phải thái nhân cách có hoạt động tương tự như người không phạm tội ở những vùng nói trên. Kết quả này đã được công bố trên tạp chí khoa học Lancet Psychiatry.



Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Holocaust 2.0 đang đến gần!

Biển tưởng niệm với dòng chữ 'Không bao giờ nữa' ở trại tập trung Dachau tại Đức
Biển tưởng niệm với dòng chữ "Không bao giờ nữa" viết bằng nhiều ngôn ngữ ở trại tập trung Dachau tại Đức

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Sott.net đang bắt đầu loạt bài điểm lại lịch sử do thực tế rằng con người trên hành tinh này có vẻ không thực sự nhớ những gì họ đã thề là sẽ “không bao giờ quên”. Lịch sử đang lặp lại. Nó đang xảy ra NGAY LÚC NÀY, và sự khởi đầu của quá trình đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta. Hãy coi những bài viết này là lời cảnh báo của chúng tôi với nhân loại. Chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ không rơi vào thinh không một cách vô ích.

Alfred Hitchcock là một nghệ sĩ. Rất ít người hiểu ngôn ngữ của phim ảnh được như ông - cách truyền tải thông điệp trên phương diện tình cảm, vượt ra ngoài tầm của lý trí - và nó thể hiện trong những bộ phim tâm lý kinh dị của ông, như Psycho, The Birds, và Vertigo cùng vô số bộ phim khác. Nhưng ông còn làm một bộ phim mà hầu hết mọi người chưa từng nghe tới. Trong năm 1945, ông được thuê hỗ trợ một bộ phim tài liệu sử dụng những thước phim quay bởi binh lính Anh, Mỹ và Nga về các trại tập trung vừa được giải phóng trải khắp Châu Âu sau Thế Chiến II. Bản thân Hitchcock cuối cùng chỉ làm việc với bộ phim được một tháng, giúp đỡ với việc trình bày trực quan các cảnh quay và từ chối thù lao. Sau đó, nhiều chậm trễ khác nhau nảy sinh, ban điều hành hãng phim dừng dự án, thay đổi trọng tâm, thuê một người quản lý dự án mới (Billy Wilder), và cuối cùng phát hành một phiên bản rút ngắn, hoàn toàn khác có tựa đề Lò xay Chết chóc (Death Mills).

Ngày 26/1, HBO chiếu một bộ phim tài liệu mới, Đêm sẽ Đến (Night Will Fall), kể lại câu chuyện của bộ phim gốc, nằm trong kho lưu trữ trong hàng thập kỷ, và quá trình phục chế nó. Frontline lần đầu tiên phát sóng phiên bản phục chế của bộ phim, Ký ức Trại tập trung (Memory of the Camp), vào năm 1985. Bạn có thể xem nó dưới đây. (Nó cũng có trên trang web của PBS.)

Mục đích ban đầu của bộ phim là để cho mọi người thấy sự kinh hoàng của Đức Quốc xã, để nó “trở thành một tư liệu phục vụ cho ký ức chung của chúng ta”. Nói một cách khác, để không bao giờ quên. Để cho mọi người thấy sự thảm khốc cùng cực mà “nhân loại” có khả năng gây ra, và hy vọng rằng mọi người sẽ học được bài học để rồi nó không bao giờ xảy ra nữa. “Không bao giờ nữa!” là khẩu hiệu ngay lập tức xuất hiện trong đầu khi tôi nghĩ đến sự kiện Holocaust, và đó là một khẩu hiệu tốt, giá như chúng ta đều mở mắt căng tai để thực sự thấy những gì cần thiết để ngăn chặn hành động tàn khốc ở mức độ như vậy xảy ra một lần nữa. Nhưng chúng ta không thể làm vậy. Chúng ta đang ở trên cùng một con đường đến sự hủy diệt. Nó sẽ xảy ra một lần nữa, và nhân loại vẫn sẽ không nhìn thấy khi nó đang đến. Vâng, một số rất ít sẽ thấy, và tiếng nói của họ sẽ là vô vọng. Có những người đã thấy nó đang đến trước Thế Chiến II, và họ bị bỏ qua, bị chế giễu, bị bắt hoặc bị giết.

Nhưng tôi đang đi nhanh quá rồi. Hãy xem bộ phim trước đã.



Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Viết để chữa lành

Nguồn: Đại học Texas tại Austin
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Trong gần 20 năm, tiến sĩ James W. Pennebaker giao cho mọi người một bài tập: viết xuống những cảm xúc sâu thẳm nhất của bạn về một chấn động tinh thần nào đó trong cuộc sống trong vòng 15 – 20 phút và làm vậy bốn ngày liên tục. Nhiều trong số những người làm theo hướng dẫn đơn giản của ông nhận thấy hệ thống miễn dịch của họ được tăng cường. Những người khác thấy điểm số của họ được cải thiện. Với một số người, toàn bộ cuộc sống của họ thay đổi.

Pennebaker, giáo sư khoa Tâm lý học tại trường Đại học Texas ở Austin và tác giả của nhiều cuốn sách trong đó có cuốn Mở Rộng Lòng (Opening Up)Viết để Chữa lành (Writing to Heal), là một người tiên phong trong nghiên cứu sử dụng việc viết bộc lộ cảm xúc để chữa lành. Nghiên cứu của ông cho thấy việc viết tập trung trong thời gian ngắn có thể có tác dụng tốt với tất cả mọi người, từ những người đang phải đối phó với bệnh hiểm nghèo cho đến nạn nhân tội ác bạo lực cho đến các sinh viên mới vào trường đại học.

“Khi mọi người được cho cơ hội viết về các chấn động tinh thần, họ thường thấy được cải thiện về sức khỏe,” Pennebaker nói. “Họ đến bác sĩ ít hơn. Họ có những thay đổi trong chức năng miễn dịch. Nếu họ là sinh viên năm thứ nhất, điểm số của họ có xu hướng đi lên. Nhiều người nói với chúng tôi sau đó hàng tháng trời rằng đó là một trải nghiệm rất có ích với họ.”

Trong nghiên cứu ban đầu của mình, Pennebaker chú ý đến việc những người có bí mật quan trọng thường dễ mắc một loạt vấn đề về sức khỏe. Nếu bạn có thể tìm được cách để cho những người ấy chia sẻ bí mật của họ, liệu các vấn đề sức khỏe của họ có được cải thiện không?

Hóa ra câu trả lời thường là có, và những người ấy thậm chí không cần nói bí mật của họ với ai khác. Hành động đơn giản viết về những bí mật đó, ngay cả khi họ thiêu hủy những gì họ viết ngay sau đó, có tác động tích cực đối với sức khỏe. Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy lợi ích đó không chỉ giới hạn ở những người có bí mật quan trọng, mà có thể áp dụng cả cho những người đang phải đối phó với việc ly hôn, bị mất việc hay thậm chí chỉ là phải đi làm xa.

“Các thăng trầm cảm xúc động động chạm đến mọi khía cạnh cuộc sống của chúng ta,” Pennebaker giải thích. “Bạn không chỉ có mất việc, bạn không chỉ có ly dị. Những thứ đó ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của con người bạn - tình hình tài chính của bạn, quan hệ của bạn với những người khác, cách nhìn của bạn về bản thân, suy nghĩ của bạn về cuộc sống và cái chết. Viết giúp chúng ta tập trung và sắp xếp lại các trải nghiệm đã qua.”

Tâm trí chúng ta luôn cố gắng để hiểu về những gì xảy đến với chúng ta. Khi một sự kiện chấn động nào đó xảy ra hay khi chúng ta trải qua một biến động lớn trong cuộc sống, tâm trí chúng ta phải tăng cường hoạt động để xử lý trải nghiệm đó. Nghĩ ngợi về sự kiện có thể khiến chúng ta không ngủ được, làm chúng ta mất tập trung khi làm việc, và thậm chí làm chúng ta không kết nối được với người khác.

Khi chúng ta chuyển một trải nghiệm sang ngôn ngữ, về cơ bản chúng ta đã làm nó trở nên dễ hiểu hơn. Nhiều người có thể thấy cải thiện trong cái gọi là “bộ nhớ hoạt động”, hay khả năng suy nghĩ về nhiều thứ cùng một lúc. Họ cũng có thể ngủ tốt hơn. Kết nối xã hội của họ cũng có thể cải thiện, một phần là vì họ có khả năng tập trung tốt hơn vào người khác ngoài chính bản thân họ.



Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Những kẻ thái nhân cách ở Nuremburg

Các bị cáo tại Tòa án Quân sự Quốc tế Nuremburg
Các bị cáo tại Tòa án Quân sự Quốc tế Nuremburg

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu hiệu thời đại

Nếu, như nhiều người ngày nay vẫn nói, những kẻ thái nhân cách đang điều khiển chính phủ của chúng ta, tại sao chúng ta không biết về điều đó? Tại sao nó không phải là kiến thức phổ biến, được thảo luận trong gia đình và lớp học trên khắp đất nước? Tại sao các trường học không có khóa học dành cho chủ đề ấy? Nói một cách ngắn gọn, tại sao một ý tưởng đơn giản, nhưng rất mang tính cách mạng lại có vẻ bí mật như vậy? Câu trả lời thực ra nằm trong câu hỏi: nó mang tính cách mạng, nhưng không phải theo cách bạn nghĩ! Bạn thấy đấy, hầu hết các cuộc cách mạng đều bị gây ra, ảnh hưởng hay điều khiển bởi những kẻ thái nhân cách, và khá thường xuyên, điều này được thực hiện bởi cái gọi là “sự lạm dụng tâm thần học.”

Những hành động và phản ứng của người bình thường, những ý tưởng và tiêu chuẩn đạo đức của họ thường được xem là không bình thường trong mắt của những cá nhân không bình thường. Và nếu một kẻ thái nhân cách coi hắn ta là bình thường, điều này dĩ nhiên là dễ dàng hơn nếu hắn ở vị trí nắm quyền, khi đó hắn sẽ coi một người bình thường khác biệt với tiêu chuẩn “bình thường” của hắn là không bình thường.

Điều đó giải thích tại sao, khi những kẻ thái nhân cách trèo lên nắm quyền, như chúng vẫn có xu hướng làm vậy một cách tự nhiên, hệ thống xã hội của chúng - bao gồm cả giáo dục và y học / tâm thần học - luôn có xu hướng coi bất cứ người bất đồng chính kiến - hay có xu hướng bất đồng chính kiến - nào là “tâm thần không bình thường”. Như Lobaczewski viết, “Trong mắt kẻ thái nhân cách, người bình thường chỉ là một kẻ ngây thơ đi tin vào những lí thuyết không hiểu nổi; nếu gọi là “điên rồ” cũng không xa mấy.”

Do đó, những chính quyền như vậy thường kiểm soát môn tâm lý học và tâm thần học thông qua ngân sách và sự có mặt của các “tay trong” thấm nhuần ý thức hệ tư tưởng trong hệ thống nghiên cứu giáo dục. Đồng thời, những phản ứng tự nhiên vô thức của người bình thường đối với môi trường bệnh hoạn xung quanh họ bắt đầu bị định nghĩa là bệnh tật và các “liệu pháp tâm thần”, bao gồm cả nhiều loại thuốc, được quảng bá để buộc những người bình thường sống trong thế giới bệnh hoạn và nghĩ nó là bình thường.

Sự thật về chứng thái nhân cách phải bị gièm pha và che đậy để ngăn nó khỏi gây nguy hiểm cho chính hệ thống chính quyền, và điều này thường xuyên được thực hành bởi những quan chức bệnh hoạn về tâm lý. Bất cứ ai hiểu biết quá nhiều về chứng thái nhân cách đều có thể bị buộc tội với bất cứ thứ tội nào họ có thể bịa ra, bao gồm cả tâm lý không bình thường. Những người ấy trở thành “điên rồ”, “hoang tưởng”, “tâm thần không ổn định” và “nguy hiểm”.

Sự khác biệt về tâm lý là gốc rễ của sự khác biệt giữa những kẻ thái nhân cách cầm quyền và quần chúng, những người bị chúng đàn áp và những người cuối cùng luôn luôn nổi dậy chống lại chúng. Áp lực của cuộc sống trong một thế giới bệnh hoạn chỉ có thể được chịu đựng bấy lâu thôi và cuối cùng, những trò vui chơi giải trí, thuốc men, ma túy đều không còn đủ để làm dịu họ. Cùng lúc đó, những kẻ thái nhân cách khác - chưa trèo được lên đến đỉnh - dựa vào cảm xúc bạo lực của đám quần chúng bị áp bức, thao túng, điều khiển và cưỡi làn sóng bất mãn lên vị trí quyền lực mới, đồng thời đè bẹp các đối thủ của chúng trong quá trình đó. Đối với những kẻ thái nhân cách, sẽ luôn luôn là có ích khi giết hại được một mớ người bình thường, gây chấn thương tinh thần cho những người còn lại, và khiến tất cả mọi người nghĩ rằng giờ họ đã nổi dậy chống lại kẻ áp bức, mọi chuyện về sau sẽ đều tốt đẹp cả!

Vậy, bạn thấy đấy, ý tưởng đó mang tính cách mạng là vì nếu có khi nào nó được biết rộng rãi rằng vấn đề chỉ là ở chỗ những kẻ bệnh hoạn tâm lý chống lại người bình thường chứ không phải những ý thức hệ khác nhau mà các tư tưởng bệnh hoạn tâm lý trốn trong đó, những kẻ thái nhân cách sẽ trở nên bất lực. Không còn khả năng dồn đẩy dân chúng vào các cuộc chiến tranh chống lại kẻ thù được phóng đại (và thường là bịa đặt), mạng lưới hỗ trợ của kẻ thái nhân cách sẽ sụp đổ và hoàng đế sẽ thực sự trần truồng trên đường phố cho tất cả mọi người thấy.



Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Hôn nhân

Tác giả: Emily Esfahani Smith
Nguồn: The Atlantic
Dịch bởi Dấu hiệu Thời đại

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

John Gottman bắt đầu thu thập những phát hiện quan trọng nhất của ông vào năm 1986 khi ông thành lập “Phòng Thí nghiệm Tình yêu” với đồng nghiệp Robert Levenson tại trường Đại học Washington. Gottman và Levenson đưa các cặp mới cưới vào phòng thí nghiệm và quan sát họ tương tác với nhau. Cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu, họ nối những người tình nguyện vào các cực điện và đề nghị họ nói về mối quan hệ của mình, như là họ đã gặp nhau thế nào, một xung đột lớn mà họ đối mặt cùng nhau, một kỷ niệm tốt lành mà họ có. Trong khi họ nói, các cực điện đo lưu lượng máu, nhịp tim và lượng mồ hôi tiết ra. Rồi những nhà nghiên cứu cho các đôi đi về và hẹn gặp họ lại sáu năm sau để xem họ còn sống với nhau không.

Từ dữ liệu thu thập được, Gottman chia các cặp vợ chồng thành hai nhóm chính: nhóm bậc thầy và nhóm sa lầy. Nhóm bậc thầy vẫn sống hạnh phúc với nhau sau sáu năm. Nhóm sa lầy hoặc đã chia tay, hoặc thường xuyên không hạnh phúc trong hôn nhân của họ. Khi những nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu thu thập được, họ thấy sự khác biệt rõ ràng giữa nhóm bậc thầy và nhóm sa lầy. Nhóm sa lầy trông có vẻ bình tĩnh trong cuộc phỏng vấn, nhưng các thông số sinh lý của họ, đo bởi những điện cực, kể một câu chuyện khác hẳn. Nhịp tim của họ nhanh, các tuyến mồ hôi hoạt động và lưu lượng máu chảy nhanh. Theo dõi hàng ngàn cặp vợ chồng theo thời gian, Gottman thấy rằng các thông số sinh lý của những cặp vợ chồng càng cao trong phòng thí nghiệm bao nhiêu thì mối quan hệ của họ xấu đi nhanh bấy nhiêu theo thời gian.



Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Suy nghĩ tích cực không phải lúc nào cũng tốt cho bạn

Lạc quan và bi quan
Ly rượu vẫn còn một nửa hay ly rượu đã hết một nửa?

Tác giả: Tiến sĩ Adam Grant
Nguồn: Psychology Today
Nguồn dịch: Tâm Lý Học Tội Phạm

Nếu bạn muốn đạt được một mục tiêu lớn, cách suy nghĩ thông thường nói rằng hãy suy nghĩ tích cực. Tưởng tượng bản thân bạn có một bài thuyết trình tuyệt vời và hấp thu năng lượng của khán giả. Hình dung về một cuộc phỏng vấn xin việc lý tưởng, và tưởng tượng bản thân bạn đang trên 9 tầng mây khi bạn được nhận. Dù những chiến lược đó nghe có vẻ lôi cuốn, hóa ra chúng thường phản tác dụng. Nhiều người trong chúng ta thành công hơn khi chúng ta tập trung vào những lý do khiến chúng ta có thể thất bại.

Trong một loạt nghiên cứu thông minh, các nhà tâm lý Julie Norem và Nancy Cantor đã so sánh những ‘người lạc quan chiến lược’ và ‘những người bi quan tự vệ’. Nếu bạn là một người lạc quan chiến lược, bạn tưởng tượng về kết quả tốt nhất có khả năng xảy ra và sau đó hăm hở lập kế hoạch để thực hiện nó. Nếu bạn là một người bi quan tự vệ, ngay cả nếu bạn từng thành công trong quá khứ, bạn biết lần này có thể khác. Bạn bắt đầu tượng tượng về tất cả những việc có thể bất ổn. Điều gì xảy ra nếu tôi làm đổ café lên người phỏng vấn? Điều gì xảy ra nếu tôi vô tình có bài thuyết trình bằng tiếng nước ngoài? Điều gì xảy ra nếu tôi quên tên của mình?

Hầu hết mọi người giả định rằng những người lạc quan chiến lược thì làm tốt hơn những người bi quan tự vệ, vì họ thu được lợi ích từ sự tự tin và những kỳ vọng cao. Norem và Cantor phát hiện thấy những người bi quan tự vệ thì có nhiều lo lắng hơn và đặt ra kì vọng thấp hơn cho bản thân họ trong những nhiệm vụ phân tích, phát biểu và sáng tạo. Nhưng họ không hề thực hiện kém hơn.

“Lúc đầu, tôi không biết làm thế nào mà những người đó có thể làm rất tốt mặc cho sự bi quan của họ”, Norem viết trong cuốn The Positive Power of Negative Thinking (Sức mạnh Tích cực của Suy nghĩ Tiêu cực). “Chẳng bao lâu, tôi bắt đầu nhận ra họ đã làm tốt chính sự bi quan của họ…suy nghĩ tiêu cực biến lo lắng thành hành động.” Bằng cách tưởng tượng về những cảnh tồi tệ nhất, những người bi quan tự vệ thúc đẩy bản thân họ chuẩn bị nhiều hơn và cố gắng hơn.

Những người lạc quan chiến lược và những người bi quan tự vệ thành công dưới những hoàn cảnh khác nhau. Nếu bạn là một người bi quan tự vệ hoặc bạn đang cố gắng để thúc đẩy một người bi quan tự vệ, các chiến lược được chứng minh là có hiệu quả thường trái ngược với những gì bạn mong đợi.



Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Kẻ thái nhân cách chính trị

Benjamin Netanyahu, kẻ thái nhân cách chính trị
Benjamin Netanyahu, kẻ thái nhân cách chính trị

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu hiệu thời đại

Trước khi nghiên cứu về kẻ thái nhân cách doanh nghiệp, Paul Babiak và các đồng nghiệp đặt ra nhiều câu hỏi cần trả lời. Những câu hỏi đó đều có thể áp dụng tương đương cho kẻ thái nhân cách chính trị và có thể được viết lại như sau:

  • Làm thế nào kẻ thái nhân cách có thể vượt qua các ứng cử viên khác và đạt được thành công trong chính trị?

  • Tại sao kẻ thái nhân cách muốn làm chính trị?

  • Kẻ thái nhân cách có thể hoạt động thành công trong môi trường như vậy trong bao lâu?

Jim Kouri, người làm trong Đội Chống Ma túy Quốc gia, đã huấn luyện cảnh sát và nhân viên an ninh trên khắp nước Mỹ, và hiện đang là phó chủ tịch thứ năm của Hiệp hội Cảnh sát trưởng Quốc gia, trả lời câu hỏi thứ nhất trong một bài xã luận trên examiner.com:

Rất đơn giản, những kẻ giết người hàng loạt và nhiều chính trị gia chuyên nghiệp bắt chước những gì họ tin là phản ứng thích hợp cho các tình huống mà họ đang đối mặt với như buồn bã, đồng cảm, thông cảm và những phản ứng khác của con người với kích thích từ bên ngoài... Nếu kẻ tội phạm là thái nhân cách, chúng có thể tấn công, hãm hiếp và giết người mà không quan tâm đến hậu quả về mặt pháp lý, đạo đức hay xã hội. Điều này cho phép chúng làm những gì chúng muốn, bất cứ lúc nào chúng muốn. Trớ trêu thay, những đặc điểm này cũng tồn tại ở những cá nhân bị thu hút tới các vị trí quyền lực cao trong xã hội, bao gồm cả các chính trị gia.

Chính trị là một thế giới tàn nhẫn. Chính trị gia không những phải tương đối mặt dày để đối phó với các cuộc tấn công vào nhân cách của họ, họ còn phải có khả năng trả đòn. Những kẻ thái nhân cách nói dối một cách dễ dàng. Chúng không có chút bận tâm gì về đạo đức khi cần bôi nhọ người khác, hứa suông, tự quảng cáo một cách vô liêm sỉ, hay sử dụng bất cứ thủ đoạn tàn nhẫn nào khác để đạt được mục đích. Những phẩm chất này mang lại cho chúng lợi thế hơn hẳn các đối thủ trung thực (và thường là ngây thơ) hơn.

Chính trị không khác mấy so với những trò lừa đảo khác. Ví dụ trong một vụ lừa đảo, kẻ lừa đảo thường nhắm đến các thành viên của một nhóm xác định, có thể là tôn giáo, chủng tộc hay tuổi tác. Bất kể có là thành viên của nhóm ấy không, hắn vẫn làm bộ như đại diện cho cả nhóm.

Tương tự, kẻ thái nhân cách chính trị cũng làm bộ đại diện cho một đảng phái nào đó, đặc biệt là trong các chính phủ dân chủ. Việc sử dụng mặt nạ đảng phái là phổ biến đến mức có thể nói đó là cách hoạt động chính của chúng.

Nhưng từ đầu tại sao kẻ thái nhân cách lại muốn đi vào con đường chính trị? Đơn giản chỉ cần đặt câu hỏi, “Ai là cá nhân quyền lực nhất trên thế giới?”, và nhiều người sẽ trả lời: “Tổng thống”. Kẻ thái nhân cách tìm kiếm những vị trí có quyền lực và ảnh hưởng lớn, và chính trị mang lại điều đó cộng với sự nổi tiếng, uy tín và nhiều bổng lộc khác. Nó cho phép chúng trèo lên những vị trí với quyền lực tối thượng đối với quân đội, nền kinh tế và cả dân tộc. Trong một thế giới nơi mà kẻ thái nhân cách bị xem là kinh tởm về mặt đạo đức và thường chỉ phù hợp trong giới tội phạm, chính trị cung cấp cơ hội cho chúng biến đổi thế giới để tạo ra một thế giới mới, nơi mà chúng được tự do khỏi những quy tắc đạo đức và pháp lý vô lý (đối với chúng) của xã hội.



Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Tại sao mọi người tin những chuyện bịa đặt và tám cách để thay đổi nó

Thông tin sai lệch

Tác giả: Tiến sĩ Jeremy Dean
Nguồn: PsyBlog
Nguồn dịch: Tâm lý học tội phạm blog

Một số người tin đủ thứ kỳ quặc, ví dụ như...

... không, thực ra có một lý do tâm lý rất xác đáng khiến tôi không lặp lại những thứ đó ở đây.

Tôi chỉ muốn nói rằng một số người tin những điều rất kỳ lạ. Và một trong những lý do khiến mọi người chấp nhận những ý tưởng kỳ quặc là vì nó được lặp lại, ngay cả khi chỉ để phản bác chúng.

Vậy tất cả những thông tin sai đến từ đâu, tại sao mọi người tin nó và làm thế nào những người biết thông tin đúng có thể thay đổi niềm tin của họ?

(Bài này dựa theo một bài viết tuyệt vời của giáo sư Stephan Lewandowsky và cộng sự).

Thông tin sai đến từ

1. Những tin đồn và câu chuyện bịa đặt

Con người ưa thích những câu chuyện giật gân, gây xúc động mạnh. Họ thích truyền bá những câu chuyện làm người nghe rất hạnh phúc, ghê tởm, phẫn nộ hoặc sợ hãi: bất kỳ điều gì gây ra phản ứng cảm xúc mạnh mẽ.

Những câu chuyện trung tính, có thể có nhiều khả năng là sự thật, nhưng nhàm chán hơn, và do đó nhận được ít sự chú ý.

Kỳ lạ hơn, nghiên cứu cho thấy mọi người tin vào những điều rõ ràng là bịa đặt mà họ từng đọc trong tiểu thuyết. Điều này đúng ngay cả khi:

  • Chúng rõ ràng là tiểu thuyết bịa đặt,

  • và khi họ được cho biết rằng cuốn tiểu thuyết bịa đặt đó chứa những thông tin sai,

  • và khi sự thật được biết tương đối rộng rãi.

Điều này có thể một phần vì sự phòng vệ của mọi người có xu hướng trở nên thấp hơn khi họ tiêu thụ các sản phẩm giải trí phổ biến.

2. Những nhà chính trị

Hầu hết chúng ta đều biết rằng các chính trị gia sẽ nói bất kỳ điều gì để được bầu, nhưng chúng ta có thể phân biệt được giữa sự thật và những lời nói dối mà họ nói không?

Các nghiên cứu phát hiện thấy, trong thực tế, mọi người rất khó để biết được sự khác nhau. Có vẻ như việc biết các chính trị gia nói dối không ngăn được mọi người tin vào những lời dối trá đó.



Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Kẻ thái nhân cách: Những con rắn độc mặc complê

Rắn độc mặc complê

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu hiệu thời đại

Kẻ thái nhân cách tội phạm đã được quan sát và nghiên cứu gần một thế kỷ nay. Thế nhưng ngoại trừ một đoạn đề cập ngắn bởi Cleckley, khái niệm về kẻ thái nhân cách thành công - một kẻ bình thường theo hầu hết các tiêu chuẩn bề ngoài - vẫn nằm trong bóng tối của “âm mưu thông đồng im lặng” ở khắp nơi ấy. Ở những bài tới trong loạt bài viết này, bạn sẽ hiểu tại sao lại có tình trạng như vậy và biết chính xác hậu quả của lỗ hổng nguy hại như vậy trong kiến thức và nhận thức là gì. Cho tới nay, thảo luận chi tiết duy nhất về vấn đề những kẻ thái nhân cách thành công là cuốn sách Rắn độc mặc complê (Snakes in Suits) của Paul Babiak và Robert Hare xuất bản năm 2006. Cuốn sách này là thứ không ai nên bỏ lỡ, và nó có thể cứu mạng bạn, theo nghĩa đen. Những thông tin mà nó chứa đựng có thể áp dụng cho các tương tác ở mọi cấp độ xã hội.

Babiak, một nhà tâm lý học chuyên về lĩnh vực công nghiệp và tổ chức, gặp kẻ thái nhân cách doanh nhân đầu tiên của mình vào năm 1992. Thông qua việc thảo luận chi tiết những kẻ như “Dave” trong môi trường doanh nghiệp, Babiak không chỉ làm rõ các phương pháp mà kẻ thái nhân cách dùng để thâm nhập và trèo lên bậc thang danh vị trong doanh nghiệp, ông còn đập tan các ảo tưởng trước đó về những gì kẻ thái nhân cách có thể hay không thể làm được. Nhiều người trong ngành nghĩ rằng kẻ thái nhân cách không có khả năng thành công trong kinh doanh. Họ nghĩ rằng những hành vi vị kỷ và bắt nạt người khác của kẻ thái nhân cách sẽ làm những người có thể thuê chúng không thích, và sự thao túng và lạm dụng của chúng cuối cùng sẽ làm công ty thất bại. Trên thực tế, những người được gọi là “chuyên gia” đó không thể sai lầm hơn được nữa. Họ dường như đã quên mất khả năng kỳ lạ của kẻ thái nhân cách trong việc trưng ra một hình ảnh cực kỳ bình thường, thậm chí là xuất sắc, cho các nạn nhân của chúng. Và chúng ta là vậy đối với chúng: nạn nhân, mục tiêu.

Ngược lại với niềm tin phổ biến và giả định ngạo mạn ấy, Babiak thấy rằng kẻ thái nhân cách dễ dàng được chấp nhận vào hàng ngũ lãnh đạo của các công ty lớn, và thậm chí còn có thành công trong sự nghiệp.1 Tính vị kỷ cực đoan của chúng thường bị nhầm lẫn thành “đức tính lãnh đạo tích cực”. Thế giới đạo đức tối tăm và sự hỗn loạn nội bộ thường thấy trong các vụ sát nhập, mua lại và tiếp quản công ty có vẻ rất hợp với những loại như chúng. Chúng không chỉ làm việc tốt dưới áp lực - do chúng không có khả năng cảm nhận sự sợ hãi hay căng thẳng - mà những lợi nhuận tiềm năng là quá lớn để từ chối, cả đối với kẻ thái nhân cách và công ty. Như Babiak viết, “sự thiếu kiến thức cụ thể ở các doanh nhân về những thủ đoạn thao túng và lừa gạt của kẻ thái nhân cách là chìa khóa dẫn đến sự thành công của kẻ lừa đảo doanh nghiệp.”2 Trớ trêu thay, chính những tính cách mà các tập đoàn và tổ chức hùng mạnh tìm kiếm lại thường là những thứ mang lại sự sụp đổ không tránh khỏi của họ (chứng kiến sự sụp đổ của Bernie Madoff, Enron và Đức Quốc xã). Và đó là những tính cách mà chúng ta đã quen xem là lý tưởng. Ví dụ, thông qua “gọng kính màu hồng” của những người không hiểu biết, lừa gạt và thao túng trở thành “mang tính thuyết phục” và “có ảnh hưởng lớn”; hành vi lạnh lùng và không ăn năn, hối lỗi trở thành “thiên về hành động” và “có khả năng đưa ra quyết định khó khăn”; không biết sợ và bốc đồng trở thành “dũng cảm” và “đầy nhiệt huyết”; không có cảm xúc trở thành “mạnh mẽ” và “biết điều khiển cảm xúc”.3



Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Mặt nạ của kẻ thái nhân cách

Madoff, kẻ thái nhân cách Phố Wall
Madoff, kẻ thái nhân cách Phố Wall

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net

Một kẻ thái nhân cách Phố Wall?

Năm 1960, Bernie Madoff thành lập công ty Phố Wall của hắn, Công ty Đầu tư Chứng khoán Bernard L. Madoff. Là chủ tịch hội đồng quản trị cho đến khi bị bắt vào tháng 12/2008, Madoff đã chứng kiến công ty (và bản thân hắn ta) đạt tiếng tăm lừng lẫy trên Phố Wall với thành tích phát triển công nghệ mà sau này trở thành NASDAQ, sàn giao dịch chứng khoán điện tử đầu tiên và lớn nhất ở Mỹ. Là một triệu phú với tài sản hơn 800 triệu đô la chung giữa hắn và vợ, Ruth Alpern, Madoff nổi danh là một người cầm đầu trong lĩnh vực tài chính và nhà từ thiện hào phóng. Hắn toát ra hòa quang của sự giàu có, tự tin và quen biết rộng, và nhiều người tin tưởng hắn như một trụ cột của cộng đồng. Nghe có vẻ như một con người tuyệt vời phải không?

Hình ảnh nhà từ thiện của hắn được hỗ trợ bởi việc hắn làm cho nhiều tổ chức phi lợi nhuận như Quốc hội Do thái Mỹ (American Jewish Congress) và Đại học Yeshiva ở New York, những ban chấp hành và hội đồng quản trị mà hắn là thành viên, cùng hàng triệu đô la hắn hiến tặng cho mục đích giáo dục, chính trị, văn hóa và y tế. Như trang web công ty hắn khi đó ghi rõ (bây giờ đã bị xóa bỏ): “Khách hàng biết rằng mong muốn cá nhân của Bernard Madoff là duy trì lịch sử không một tỳ vết của phong cách làm việc ngay thẳng và tiêu chuẩn đạo đức cao, điều luôn luôn gắn liền với công ty.” Thật buồn cười khi mọi việc thay đổi với một thay đổi nhỏ trong cách nhìn và nó chỉ trở nên rõ ràng khi nhìn lại. Mãi cho đến tháng 12/2008, công chúng mới biết rằng “mong muốn cá nhân” này hoàn toàn chẳng liên quan gì đến tiêu chuẩn đạo đức cao và cái hình ảnh đó không còn bị nhầm lẫn với thực tế nữa.

Trong cuộc thảo luận với Joanne Lipman, tổng biên tập tạp chí Condé Nast Portfolio, Elie Wiesel, người sống sót từ vụ Holocaust, từng đoạt giải Nobel và là nạn nhân của Madoff, đã nói: “Tôi nhớ hắn tạo ra một huyền thoại xung quanh hắn... rằng mọi thứ đều rất đặc biệt, có một không hai, rằng nó phải được giữ bí mật. Nó như một thứ thần thoại huyền bí mà không ai có thể hiểu được... Hắn tạo ra ấn tượng rằng có lẽ chỉ khoảng 100 người được là khách hàng của hắn. Bây giờ chúng ta biết rằng hàng ngàn người đã bị lừa bởi hắn.”1

Trong cái được mô tả là vụ gian lận đầu tư lớn nhất từng được thực hiện bởi một cá nhân, Madoff lừa đảo hàng ngàn nhà đầu tư số tiền gần 65 tỷ đô la trong một kế hoạch Ponzi tinh xảo. Hắn thanh toán lợi nhuận cho các nhà đầu tư từ số tiền trả bởi những nhà đầu tư mới khác chứ không phải từ lợi nhuận thực tế. Bằng cách di chuyển tiền như vậy, Madoff tạo ra một ảo ảnh về lợi nhuận sánh ngang với hình ảnh nhân vật đạo đức tốt của hắn. Ảo ảnh của tỷ lệ lợi nhuận cao và đều đặn đã nhử được hàng ngàn người vào chương trình đầu tư tốt đến mức không tưởng, cung cấp bởi một con người tốt đến mức không tưởng. Theo tường thuật bởi các phương tiện truyền thông, Madoff miêu tả quỹ đầu tư ấy là một “sự dối trá to lớn” với các con trai hắn, và họ nhanh chóng thông báo với nhà chức trách. Madoff bị bắt ngày hôm sau và tài sản của hắn bị niêm phong (cũng như tài sản của vợ và các con hắn sau này). Kết cục là Madoff đã thành công trong việc hủy hoại cuộc sống của hàng ngàn người, đẩy một số nạn nhân đến con đường tự sát. Cuối cùng hắn chấp nhận đã phạm 11 tội trong đó có gian lận, rửa tiền, khai man. Mặc dù Madoff điều hành công ty của hắn với bàn tay sắt và tuyên bố chỉ có mình hắn chịu trách nhiệm về việc lừa đảo khách hàng, các nhà điều tra vẫn chưa hài lòng với lời giải thích làm sao một người duy nhất có thể che giấu sự gian lận trên quy mô lớn đến như vậy và trong thời gian dài như vậy. Quá trình điều tra sau đó đã đặt sáu cộng sự cũ của Madoff vào vòng điều tra hình sự,2 và nhiều vụ kiện khác đang diễn ra chống lại Ruth Madoff và các con trai bà ta.3



Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Lobaczewski và nguồn gốc môn Tà Ác Học Chính Trị

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net

Bắt đầu ngay sau Thế Chiến II và tiếp tục trong những thập kỷ sau khi chế độ độc tài Xô viết được áp đặt lên các nước Đông Âu, một nhóm các nhà khoa học - chủ yếu là người Ba Lan, Cộng hòa Séc và Hungary - đã bí mật hợp tác trong một nghiên cứu khoa học về bản chất của chế độ độc tài. Bị các cơ quan an ninh quốc gia ngăn chặn không được tiếp xúc với phương Tây, công trình nghiên cứu của họ bị giữ kín trong bóng tối, ngay cả khi những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ như Hervey Cleckley và Gustave Gilbert đang bỏ công sức tìm hiểu về cùng một vấn đề.1 Thành viên sống sót cuối cùng của nhóm này, một nhà tâm lý học và chuyên gia về thái nhân cách người Ba Lan tên là Andrew Lobaczewski (1921 – 2007), cuối cùng đặt tên môn khoa học mới của họ - tổng hợp các nghiên cứu về tâm lý, tâm thần, xã hội học, lịch sử - là “tà ác học” (ponerology), một thuật ngữ ông vay mượn từ các linh mục của Tu viện Benedictine tại làng Ba Lan lịch sử Tyniec. Xuất phát từ từ poneros trong kinh thánh Tân Ước tiếng Hy Lạp, từ này gợi đến cái ác bẩm sinh có ảnh hưởng làm hư hỏng mọi thứ xung quanh, một mô tả rất phù hợp cho chứng thái nhân cách và những ảnh hưởng xã hội của nó.

Những gì chúng ta biết về nghiên cứu này đến từ một số rất ít nguồn. Sợi dây liên lạc duy nhất của Lobaczewski với các nhà nghiên cứu khác là thông qua Stefan Szuman (1889 – 1972), một giáo sư đã nghỉ hưu, người có nhiệm vụ chuyển những tóm tắt kết quả nghiên cứu giữa các thành viên ẩn danh trong nhóm. Hậu quả của việc bị phát hiện tiến hành loại nghiên cứu bị cấm này là rất nghiêm trọng. Các nhà khoa học có thể bị bắt giữ, tra tấn, thậm chí là giết hại. Do vậy việc giữ bí mật nghiêm ngặt trong nhóm nhỏ của họ là tuyệt đối cần thiết. Họ giữ gìn cho bản thân và công trình nghiên cứu bằng cách chia sẻ kết quả nghiên cứu ẩn danh. Bằng cách này, nếu có ai bị bắt và tra tấn, người ấy cũng không thể tiết lộ tên tuổi và nơi ở của những người khác, một mối đe dọa rất thực tế với an toàn cá nhân và khả năng hoàn thành công trình nghiên cứu. Lobaczewski chỉ tiết lộ tên của hai giáo sư người Ba Lan thuộc thế hệ trước, những người tham gia vào giai đoạn đầu của nghiên cứu - Stefan Blachowski (1889 - 1962) và Kazimierz Dabrowski (1902 – 1980).2 Blachowski chết trong hoàn cảnh đáng ngờ và Lobaczewski phỏng đoán ông đã bị ám sát bởi mật vụ nhà nước do tham gia vào công trình nghiên cứu này. Dabrowski xuất cảnh và do không muốn từ bỏ quốc tịch Ba Lan của mình để làm việc ở Hoa Kỳ, ông đã nhận một vị trí tại trường Đại học Alberta, Canada, nơi ông có thể giữ hai quốc tịch. Nếu đọc kỹ những tác phẩm xuất bản bằng tiếng Anh của Dabrowski, chúng ta có thể thấy nền móng lý thuyết của những gì sau này trở thành môn tà ác học.3

Cũng như Lobaczewski, Dabrowski coi chứng thái nhân cách là “trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của cá nhân cũng như tổ chức xã hội”.4 Ông cảnh báo, “Sự thiếu nhận thức về bản chất tâm lý của các cá nhân như vậy [tức là những kẻ thái nhân cách] gây ra những đau khổ, kinh hoàng không kể xiết, từ bạo lực, chiến tranh, diệt chủng cho đến sự hủy hoại của nền văn minh nhân loại... Chừng nào sức mạnh quyến rũ, thôi miên của kẻ thái nhân cách còn chưa bị đối diện với sự thật và những hậu quả về mặt luân lý cũng như thực tiễn của việc đi theo tiếng gọi quyến rũ thôi miên ấy, thì ngay cả những nhóm hay tổ chức xã hội lớn cũng có thể đi vào con đường thoái hóa, suy đồi.5 Trong một lần đề cập có lẽ là đầu tiên đến thái nhân cách trong chính trị, ông nhận xét rằng sự thái quá của tham vọng cùng ham muốn quyền lực, tiền bạc “thể hiện đặc biệt rõ ở thái nhân cách trong chính trị”:6



Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Rắn độc mặc com-lê - Chương 2: Những người ấy là loại gì?

Nguồn: Snakes in Suits: When Psychopaths Go to Work
Tác giả: Paul Babiak và Robert Hare

Tiểu thuyết và phim ảnh thường mô tả kẻ thái nhân cách theo những khuôn mẫu cực đoan. Chúng xuất hiện là những kẻ giết người hàng loạt, hiếp dâm và lừa đảo máu lạnh. Không may là điều này cũng có phần đúng, nhưng bức tranh trong hiện thực phức tạp hơn một chút.


Nhiều năm nghiên cứu tội phạm trong tù đã chỉ rõ mức độ tội ác và bạo lực của những kẻ thái nhân cách. Giờ đây chúng ta biết những kẻ thái nhân cách cả nam và nữ thực hiện nhiều tội ác hơn và đa dạng hơn những tội phạm bình thường. Những tội ác của chúng thường mang tính bạo lực hơn những tội phạm bình thường, và bản chất hành vi của chúng mang tính hung hăng, đe dọa, chế ngự và tàn bạo hơn. Hơn nữa, sự hung hăng và bạo lực của chúng có bản chất như thú săn mồi – lạnh lùng và tuyệt đối không có những chấn động tình cảm mãnh liệt thường đi kèm hành vi bạo lực của hầu hết người bình thường khác. Kiểu hung hăng và bạo lực của chúng mang tính công cụ, là một cách để chúng đạt mục đích, và rất hiếm khi đi kèm chút bận tâm nào về những đau đớn, khổ sở ở các nạn nhân. Ngược lại, hầu hết bạo lực ở các tội phạm khác mang tính phản xạ bột phát – một phản ứng nhất thời đối với sự đe dọa hay tình huống gây ra cảm xúc mãnh liệt. Loại bạo lực này thường được nối tiếp bởi cảm xúc hối hận và mặc cảm tội lỗi về những gì đã gây ra cho người khác.

Có lẽ điều nguy hiểm nhất từ khía cạnh an toàn cộng đồng là những kẻ tội phạm thái nhân cách tái phạm với tỷ lệ cao hơn nhiều và sớm hơn nhiều so với các tội phạm khác. Tỷ lệ tái phạm là phần trăm số tội phạm phạm thêm một tội ác nữa sau khi được trở về với cộng đồng. Những kẻ thái nhân cách chiếm khoảng 15% số tội phạm trong tù. Nhiều người trong số 85% còn lại có thể coi là thái nhân cách xã hội hay bị rối loạn nhân cách chống xã hội, một rối loạn tương tự thường bị nhầm lẫn với chứng thái nhân cách (xem dưới đây). Mặc dù tỷ lệ thái nhân cách trong dân số nói chung là khá nhỏ – chỉ khoảng 1% - những tác hại về xã hội, kinh tế, thể chất và tinh thần gây ra bởi những cá nhân với chứng rối loạn này vượt xa con số đó. Chúng gây ra ít nhất một nửa những tội ác bạo lực nghiêm trọng ở Bắc Mỹ. Tuy vậy, như chúng ta sẽ thấy, không phải tất cả những kẻ thái nhân cách đều là tội phạm, và không phải tất cả tội phạm đều là thái nhân cách.