Hiển thị các bài đăng có nhãn tình cảm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tình cảm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Viết để chữa lành

Nguồn: Đại học Texas tại Austin
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Trong gần 20 năm, tiến sĩ James W. Pennebaker giao cho mọi người một bài tập: viết xuống những cảm xúc sâu thẳm nhất của bạn về một chấn động tinh thần nào đó trong cuộc sống trong vòng 15 – 20 phút và làm vậy bốn ngày liên tục. Nhiều trong số những người làm theo hướng dẫn đơn giản của ông nhận thấy hệ thống miễn dịch của họ được tăng cường. Những người khác thấy điểm số của họ được cải thiện. Với một số người, toàn bộ cuộc sống của họ thay đổi.

Pennebaker, giáo sư khoa Tâm lý học tại trường Đại học Texas ở Austin và tác giả của nhiều cuốn sách trong đó có cuốn Mở Rộng Lòng (Opening Up)Viết để Chữa lành (Writing to Heal), là một người tiên phong trong nghiên cứu sử dụng việc viết bộc lộ cảm xúc để chữa lành. Nghiên cứu của ông cho thấy việc viết tập trung trong thời gian ngắn có thể có tác dụng tốt với tất cả mọi người, từ những người đang phải đối phó với bệnh hiểm nghèo cho đến nạn nhân tội ác bạo lực cho đến các sinh viên mới vào trường đại học.

“Khi mọi người được cho cơ hội viết về các chấn động tinh thần, họ thường thấy được cải thiện về sức khỏe,” Pennebaker nói. “Họ đến bác sĩ ít hơn. Họ có những thay đổi trong chức năng miễn dịch. Nếu họ là sinh viên năm thứ nhất, điểm số của họ có xu hướng đi lên. Nhiều người nói với chúng tôi sau đó hàng tháng trời rằng đó là một trải nghiệm rất có ích với họ.”

Trong nghiên cứu ban đầu của mình, Pennebaker chú ý đến việc những người có bí mật quan trọng thường dễ mắc một loạt vấn đề về sức khỏe. Nếu bạn có thể tìm được cách để cho những người ấy chia sẻ bí mật của họ, liệu các vấn đề sức khỏe của họ có được cải thiện không?

Hóa ra câu trả lời thường là có, và những người ấy thậm chí không cần nói bí mật của họ với ai khác. Hành động đơn giản viết về những bí mật đó, ngay cả khi họ thiêu hủy những gì họ viết ngay sau đó, có tác động tích cực đối với sức khỏe. Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy lợi ích đó không chỉ giới hạn ở những người có bí mật quan trọng, mà có thể áp dụng cả cho những người đang phải đối phó với việc ly hôn, bị mất việc hay thậm chí chỉ là phải đi làm xa.

“Các thăng trầm cảm xúc động động chạm đến mọi khía cạnh cuộc sống của chúng ta,” Pennebaker giải thích. “Bạn không chỉ có mất việc, bạn không chỉ có ly dị. Những thứ đó ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của con người bạn - tình hình tài chính của bạn, quan hệ của bạn với những người khác, cách nhìn của bạn về bản thân, suy nghĩ của bạn về cuộc sống và cái chết. Viết giúp chúng ta tập trung và sắp xếp lại các trải nghiệm đã qua.”

Tâm trí chúng ta luôn cố gắng để hiểu về những gì xảy đến với chúng ta. Khi một sự kiện chấn động nào đó xảy ra hay khi chúng ta trải qua một biến động lớn trong cuộc sống, tâm trí chúng ta phải tăng cường hoạt động để xử lý trải nghiệm đó. Nghĩ ngợi về sự kiện có thể khiến chúng ta không ngủ được, làm chúng ta mất tập trung khi làm việc, và thậm chí làm chúng ta không kết nối được với người khác.

Khi chúng ta chuyển một trải nghiệm sang ngôn ngữ, về cơ bản chúng ta đã làm nó trở nên dễ hiểu hơn. Nhiều người có thể thấy cải thiện trong cái gọi là “bộ nhớ hoạt động”, hay khả năng suy nghĩ về nhiều thứ cùng một lúc. Họ cũng có thể ngủ tốt hơn. Kết nối xã hội của họ cũng có thể cải thiện, một phần là vì họ có khả năng tập trung tốt hơn vào người khác ngoài chính bản thân họ.



Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Hôn nhân

Tác giả: Emily Esfahani Smith
Nguồn: The Atlantic
Dịch bởi Dấu hiệu Thời đại

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

John Gottman bắt đầu thu thập những phát hiện quan trọng nhất của ông vào năm 1986 khi ông thành lập “Phòng Thí nghiệm Tình yêu” với đồng nghiệp Robert Levenson tại trường Đại học Washington. Gottman và Levenson đưa các cặp mới cưới vào phòng thí nghiệm và quan sát họ tương tác với nhau. Cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu, họ nối những người tình nguyện vào các cực điện và đề nghị họ nói về mối quan hệ của mình, như là họ đã gặp nhau thế nào, một xung đột lớn mà họ đối mặt cùng nhau, một kỷ niệm tốt lành mà họ có. Trong khi họ nói, các cực điện đo lưu lượng máu, nhịp tim và lượng mồ hôi tiết ra. Rồi những nhà nghiên cứu cho các đôi đi về và hẹn gặp họ lại sáu năm sau để xem họ còn sống với nhau không.

Từ dữ liệu thu thập được, Gottman chia các cặp vợ chồng thành hai nhóm chính: nhóm bậc thầy và nhóm sa lầy. Nhóm bậc thầy vẫn sống hạnh phúc với nhau sau sáu năm. Nhóm sa lầy hoặc đã chia tay, hoặc thường xuyên không hạnh phúc trong hôn nhân của họ. Khi những nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu thu thập được, họ thấy sự khác biệt rõ ràng giữa nhóm bậc thầy và nhóm sa lầy. Nhóm sa lầy trông có vẻ bình tĩnh trong cuộc phỏng vấn, nhưng các thông số sinh lý của họ, đo bởi những điện cực, kể một câu chuyện khác hẳn. Nhịp tim của họ nhanh, các tuyến mồ hôi hoạt động và lưu lượng máu chảy nhanh. Theo dõi hàng ngàn cặp vợ chồng theo thời gian, Gottman thấy rằng các thông số sinh lý của những cặp vợ chồng càng cao trong phòng thí nghiệm bao nhiêu thì mối quan hệ của họ xấu đi nhanh bấy nhiêu theo thời gian.



Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Rắn độc mặc com-lê - Chương 2: Những người ấy là loại gì?

Nguồn: Snakes in Suits: When Psychopaths Go to Work
Tác giả: Paul Babiak và Robert Hare

Tiểu thuyết và phim ảnh thường mô tả kẻ thái nhân cách theo những khuôn mẫu cực đoan. Chúng xuất hiện là những kẻ giết người hàng loạt, hiếp dâm và lừa đảo máu lạnh. Không may là điều này cũng có phần đúng, nhưng bức tranh trong hiện thực phức tạp hơn một chút.


Nhiều năm nghiên cứu tội phạm trong tù đã chỉ rõ mức độ tội ác và bạo lực của những kẻ thái nhân cách. Giờ đây chúng ta biết những kẻ thái nhân cách cả nam và nữ thực hiện nhiều tội ác hơn và đa dạng hơn những tội phạm bình thường. Những tội ác của chúng thường mang tính bạo lực hơn những tội phạm bình thường, và bản chất hành vi của chúng mang tính hung hăng, đe dọa, chế ngự và tàn bạo hơn. Hơn nữa, sự hung hăng và bạo lực của chúng có bản chất như thú săn mồi – lạnh lùng và tuyệt đối không có những chấn động tình cảm mãnh liệt thường đi kèm hành vi bạo lực của hầu hết người bình thường khác. Kiểu hung hăng và bạo lực của chúng mang tính công cụ, là một cách để chúng đạt mục đích, và rất hiếm khi đi kèm chút bận tâm nào về những đau đớn, khổ sở ở các nạn nhân. Ngược lại, hầu hết bạo lực ở các tội phạm khác mang tính phản xạ bột phát – một phản ứng nhất thời đối với sự đe dọa hay tình huống gây ra cảm xúc mãnh liệt. Loại bạo lực này thường được nối tiếp bởi cảm xúc hối hận và mặc cảm tội lỗi về những gì đã gây ra cho người khác.

Có lẽ điều nguy hiểm nhất từ khía cạnh an toàn cộng đồng là những kẻ tội phạm thái nhân cách tái phạm với tỷ lệ cao hơn nhiều và sớm hơn nhiều so với các tội phạm khác. Tỷ lệ tái phạm là phần trăm số tội phạm phạm thêm một tội ác nữa sau khi được trở về với cộng đồng. Những kẻ thái nhân cách chiếm khoảng 15% số tội phạm trong tù. Nhiều người trong số 85% còn lại có thể coi là thái nhân cách xã hội hay bị rối loạn nhân cách chống xã hội, một rối loạn tương tự thường bị nhầm lẫn với chứng thái nhân cách (xem dưới đây). Mặc dù tỷ lệ thái nhân cách trong dân số nói chung là khá nhỏ – chỉ khoảng 1% - những tác hại về xã hội, kinh tế, thể chất và tinh thần gây ra bởi những cá nhân với chứng rối loạn này vượt xa con số đó. Chúng gây ra ít nhất một nửa những tội ác bạo lực nghiêm trọng ở Bắc Mỹ. Tuy vậy, như chúng ta sẽ thấy, không phải tất cả những kẻ thái nhân cách đều là tội phạm, và không phải tất cả tội phạm đều là thái nhân cách.