Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Tống tiền: Công ty dược phẩm Mỹ nâng giá thuốc thiết yếu lên 55 lần

Tác giả: Andrew Emett
Nguồn: Activist Post
Nguồn dịch: Blog Thời Thổ Tả

Sau khi mua bản quyền một loại thuốc ngăn ngừa nhiễm khuẩn ở những người có hệ miễn dịch suy yếu, bao gồm cả bệnh nhân AIDS và bệnh nhân ung thư đang hóa trị, một công ty dược phẩm đã tăng giá thuốc 5000%. Thay vì phải trả $13,50 cho mỗi viên, bệnh nhân bị các căn bệnh đe dọa tính mạng buộc phải trả $750 mỗi viên thuốc.

Dẫn dắt bởi một cựu giám đốc quỹ đầu tư, hãng Turing Pharmaceuticals do Martin Shkreli thành lập sau khi công ty công nghệ sinh học đầu tiên của ông ta, Retrophin, đã sa thải ông ta trong bối cảnh những cáo buộc gian lận chứng khoán. Một thời gian ngắn sau khi thành lập Turing, Shkreli mua được độc quyền bán Daraprim (pyrimethamine), loại thuốc giúp ngăn ngừa bệnh sốt rét và điều trị ký sinh trùng đơn bào toxoplasmosis.

Theo CDC (Trung tâm kiểm soát ngăn ngừa bệnh tật), toxoplasmosis là căn bệnh truyền qua đường ăn uống phổ biến thứ hai trên thế giới và có thể dễ dàng lây nhiễm sang những người có hệ thống miễn dịch đã bị suy yếu do AIDS, hóa trị liệu, hay thậm chí khi mang thai. Khoảng 60 triệu người Mỹ mang ký sinh trùng Toxoplasma. Nhiễm ký sinh trùng có thể xảy ra do ăn thịt chưa chín kỹ, nấu ăn bằng dụng cụ bị nhiễm bẩn, uống nước không sạch, hay tiếp xúc với phân mèo bị nhiễm bệnh.

Một báo cáo từ Viện Prime tại trường Đại học Minnesota cho thấy giá cả trung bình của các loại thuốc có thương hiệu đã tăng 13% trong năm 2013. Theo báo cáo, các loại thuốc ung thư mới thường có chi phí hơn $100 nghìn mỗi năm, trong khi đó, loại thuốc điều trị bệnh viêm gan mới gọi là Sovaldi có chi phí $84 nghìn chỉ cho 3 tháng điều trị.

Thay vì trực tiếp giải thích việc tăng giá quá mức, Turing Pharmaceuticals đưa ra thông cáo báo chí thừa nhận rằng "một số cơ sở y tế đã gặp phải những khó khăn khi tìm mua thuốc DARAPRIM (pyrimethamine) cho các bệnh nhân được chẩn mắc bệnh toxoplasmosis."

"Ưu tiên số một của chúng tôi là bảo đảm rằng tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán bệnh toxoplasmosis có một cách hiệu quả và giá cả phải chăng để tiếp cận Daraprim" - giám đốc Thương mại của Turing là Nancy Retzlaff nói. "Ngay khi chúng tôi được biết một số bệnh viện và phòng khám gặp khó khăn trong việc tiếp cận sản phẩm, chúng tôi đã phát triển một kế hoạch khắc phục ngay để đảm bảo sự tiếp cận nhanh chóng, hiệu quả cho các bệnh nhân có nhu cầu."

Các bệnh nhân gặp rắc rối trong việc tiếp cận sản phẩm là do giá cả móc túi gần đây. Ngay cả những bệnh nhân có bảo hiểm trang trải, chỉ còn phải trả 20% chi phí, vẫn phải trả ít nhất $150 cho mỗi viên thuốc. Không chỗ nào trong thông cáo báo chí của Turing biện minh cho việc tăng chi phí thuốc đến 5000%.

Thay vì thể hiện chút lòng trắc ẩn nhỏ nhất đối với các bệnh nhân đang bị bệnh đe dọa tính mạng, các bà mẹ mang thai, và người nhận hiến tạng, Martin Shkreli có vẻ đang điều hành hãng Turing Pharmaceuticals như một tay chơi chứng khoán liều lĩnh. Bên cạnh việc mua bản quyền Daraprim, hãng Turing cũng đã chọn một loại thuốc tăng huyết áp mà Shkreli tin là có thể điều trị bệnh tự kỷ. Turing cũng được cho là đang làm việc với một loại thuốc xịt mũi chứa oxytocin và ketamine để điều trị trầm cảm.

Nhận xét: Làm tiền trên nỗi khổ của những bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo đã cùng quẫn là một trong những cách tống tiền bỉ ổi nhất. Tuy nhiên, nếu bạn nghĩ rằng đây chỉ là một ngoại lệ thì xin hãy nghĩ lại. Đây là một ví dụ rất thông thường của vấn nạn đã thành hệ thống trong hệ thống y tế Hoa Kỳ. Đó là lý do tại sao người Mỹ chi tiêu khoản tiền lớn nhất trên thế giới cho chăm sóc sức khỏe, nhưng có chất lượng y tế và sức khỏe vào loại tồi tệ nhất trong các nước phát triển. Đó cũng là lý do tại sao hầu hết người dân Mỹ chỉ cách miệng vực của sự phá sản một lần ốm đau nặng.

Xem thêm:



Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Việt Nam sắp tham gia khu vực thương mại tự do với Liên minh Hải quan

Lễ ký kết đàm phán Khu vực tự do thương mại giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan

Nguồn: Tiếng nói Nước Nga

Ba nước thành viên Liên minh Hải quan - Nga, Belarus, Kazakhstan - và Việt Nam vừa kết thúc cuộc đàm phán về dự thảo thỏa thuận thành lập Khu vực thương mại tự do.

Xin nhắc lại rằng, Việt Nam đã hướng tới Liên minh Hải quan đề nghị thành lập khu vực thương mại tự do chung. Các cuộc tham vấn đã kéo dài mấy năm, nhóm chuyên gia của hai nước đã nghiên cứu tính khả thi của việc thành lập một khu vực như vậy và đã đi đến kết luận rằng, nhờ khu vực thương mại tự do, đến năm 2020, khối lượng trao đổi hàng hóa giữa ba nước thành viên Liên minh Hải quan và Việt Nam có thể tăng gấp mấy lần so với mức hiện nay. Các nước Liên minh Hải quan có thể mở rộng đáng kể sự hỗ trợ cho Việt Nam để nước này thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế, đặc biệt trong việc thành lập cơ sở năng lượng, cơ sở hạ tầng, trong ngành giao thông, trong việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Khu vực thương mại tự do là hình thức mới về nguyên tắc của hội nhập quốc tế, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng, mở rộng và tăng cường quan hệ đầu tư. Trong khu vực thương mại tự do, các bên được dành ưu đãi thuế quan, giảm sự chậm trễ và chi phí của lưu thông hàng hóa, giảm thiểu thủ tục giấy tờ mà bây giờ gây trở ngại cho sự hợp tác kinh tế và thương mại.Và qua đó tạo cơ hội cho sự cạnh tranh tự do trên thị trường hàng hóa và dịch vụ.

Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã lưu ý đến tính cấp bách của dự án này, nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với thương mại và quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan: “Tôi nghĩ rằng, sau khi ký kết Hiệp định thương mại tự do, quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan sẽ thay đổi đáng kể. Góp phần vào điều đó là thực tế rằng, các nền kinh tế của chúng tôi bổ sung cho nhau, không cạnh tranh với nhau. Việt Nam có tiềm năng to lớn trong ngành công nghiệp nhẹ, trong ngành đánh bắt cá, trong lĩnh vực nông nghiệp. Các nước thuộc Liên minh Hải quan phát triển thành công công nghiệp nặng và công nghệ cao. Hiệp định về Khu vực thương mại tự do sẽ thúc đẩy sự hợp tác trong các lĩnh vực như năng lượng, giáo dục và khoa học, cũng như công nghệ cao”.

Không có chế độ vạn năng cho các khu vực thương mại tự do. Đó là chủ đề cuộc đàm phán giữa các bên hữu quan. Trong hai năm qua, các nước thuộc Liên minh Hải quan và Việt Nam đã tiến hành cuộc đàm phán về nội dung này. Đúng như dự định, cuộc đàm phán đã kết thúc vào giữa tháng mười hai này. Cố vấn của Bộ phát triển kinh tế Nga Yulia Shestopyorova cho biết: “Cuộc đàm phán đã tiến hành khá thành công. Bây giờ chỉ còn lại số lượng tối thiểu các vấn đề kỹ thuật chưa được thỏa thuận. Trong khi đó, cả hai bên đều chủ trương giải quyết những vấn đề đó trong mấy tháng đầu năm 2015, để trong năm tới có thể ký kết thỏa thuận”.

Trong số các vấn đề chưa được giải quyết là điều kiện tự do hóa thuế quan. Đó là biểu thuế xuất khẩu theo danh mục nhóm hàng mà thuế giảm đi và nhóm hàng không chịu thuế. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với khu vực thương mại tự do tương lai. Bởi vì việc giảm thuế hoặc áp dụng mức thuế “0” sẽ dẫn đến giảm chi phí và giá thành hàng hóa. Cố vấn của Bộ phát triển kinh tế Nga Yulia Shestopyorova nói tiếp:

“Như vậy có nghĩa là, đối với hàng hóa Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn so với các sản phẩm tương tự từ các nước khác không tham gia khu vực thương mại tự do. Kết quả là, Việt Nam sẽ có thể tăng xuất khẩu sang Liên minh Hải quan, cạnh tranh thành công với các đối thủ nước ngoài không có lợi thế như vậy”.

Theo đại diện của Bộ Phát triển Kinh tế Nga, hiện nay chưa thể nói lên ngày tháng cụ thể trong năm 2015 khi Liên minh Hải quan và Việt Nam sẽ ký kết hiệp định về thành lập khu vực thương mại tự do. Bà Shestopyorova cho rằng, có lẽ sự kiện này sẽ diễn ra vào cuối quý đầu hoặc vào đầu quý thứ hai.

Nhận xét: Sẽ là rất tốt cho Việt Nam khi hiệp định này được ký kết. Trên thực tế, Việt Nam càng tránh xa con tàu đang chìm là mô hình kinh tế bóc lột dựa vào đồng đôla Mỹ của phương Tây bao nhiều thì càng tốt bấy nhiêu. Tương lai của Việt Nam gắn liền với khối liên minh Á-Âu dẫn đầu bởi Nga và Trung Quốc.



Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Mặt nạ của kẻ thái nhân cách

Madoff, kẻ thái nhân cách Phố Wall
Madoff, kẻ thái nhân cách Phố Wall

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net

Một kẻ thái nhân cách Phố Wall?

Năm 1960, Bernie Madoff thành lập công ty Phố Wall của hắn, Công ty Đầu tư Chứng khoán Bernard L. Madoff. Là chủ tịch hội đồng quản trị cho đến khi bị bắt vào tháng 12/2008, Madoff đã chứng kiến công ty (và bản thân hắn ta) đạt tiếng tăm lừng lẫy trên Phố Wall với thành tích phát triển công nghệ mà sau này trở thành NASDAQ, sàn giao dịch chứng khoán điện tử đầu tiên và lớn nhất ở Mỹ. Là một triệu phú với tài sản hơn 800 triệu đô la chung giữa hắn và vợ, Ruth Alpern, Madoff nổi danh là một người cầm đầu trong lĩnh vực tài chính và nhà từ thiện hào phóng. Hắn toát ra hòa quang của sự giàu có, tự tin và quen biết rộng, và nhiều người tin tưởng hắn như một trụ cột của cộng đồng. Nghe có vẻ như một con người tuyệt vời phải không?

Hình ảnh nhà từ thiện của hắn được hỗ trợ bởi việc hắn làm cho nhiều tổ chức phi lợi nhuận như Quốc hội Do thái Mỹ (American Jewish Congress) và Đại học Yeshiva ở New York, những ban chấp hành và hội đồng quản trị mà hắn là thành viên, cùng hàng triệu đô la hắn hiến tặng cho mục đích giáo dục, chính trị, văn hóa và y tế. Như trang web công ty hắn khi đó ghi rõ (bây giờ đã bị xóa bỏ): “Khách hàng biết rằng mong muốn cá nhân của Bernard Madoff là duy trì lịch sử không một tỳ vết của phong cách làm việc ngay thẳng và tiêu chuẩn đạo đức cao, điều luôn luôn gắn liền với công ty.” Thật buồn cười khi mọi việc thay đổi với một thay đổi nhỏ trong cách nhìn và nó chỉ trở nên rõ ràng khi nhìn lại. Mãi cho đến tháng 12/2008, công chúng mới biết rằng “mong muốn cá nhân” này hoàn toàn chẳng liên quan gì đến tiêu chuẩn đạo đức cao và cái hình ảnh đó không còn bị nhầm lẫn với thực tế nữa.

Trong cuộc thảo luận với Joanne Lipman, tổng biên tập tạp chí Condé Nast Portfolio, Elie Wiesel, người sống sót từ vụ Holocaust, từng đoạt giải Nobel và là nạn nhân của Madoff, đã nói: “Tôi nhớ hắn tạo ra một huyền thoại xung quanh hắn... rằng mọi thứ đều rất đặc biệt, có một không hai, rằng nó phải được giữ bí mật. Nó như một thứ thần thoại huyền bí mà không ai có thể hiểu được... Hắn tạo ra ấn tượng rằng có lẽ chỉ khoảng 100 người được là khách hàng của hắn. Bây giờ chúng ta biết rằng hàng ngàn người đã bị lừa bởi hắn.”1

Trong cái được mô tả là vụ gian lận đầu tư lớn nhất từng được thực hiện bởi một cá nhân, Madoff lừa đảo hàng ngàn nhà đầu tư số tiền gần 65 tỷ đô la trong một kế hoạch Ponzi tinh xảo. Hắn thanh toán lợi nhuận cho các nhà đầu tư từ số tiền trả bởi những nhà đầu tư mới khác chứ không phải từ lợi nhuận thực tế. Bằng cách di chuyển tiền như vậy, Madoff tạo ra một ảo ảnh về lợi nhuận sánh ngang với hình ảnh nhân vật đạo đức tốt của hắn. Ảo ảnh của tỷ lệ lợi nhuận cao và đều đặn đã nhử được hàng ngàn người vào chương trình đầu tư tốt đến mức không tưởng, cung cấp bởi một con người tốt đến mức không tưởng. Theo tường thuật bởi các phương tiện truyền thông, Madoff miêu tả quỹ đầu tư ấy là một “sự dối trá to lớn” với các con trai hắn, và họ nhanh chóng thông báo với nhà chức trách. Madoff bị bắt ngày hôm sau và tài sản của hắn bị niêm phong (cũng như tài sản của vợ và các con hắn sau này). Kết cục là Madoff đã thành công trong việc hủy hoại cuộc sống của hàng ngàn người, đẩy một số nạn nhân đến con đường tự sát. Cuối cùng hắn chấp nhận đã phạm 11 tội trong đó có gian lận, rửa tiền, khai man. Mặc dù Madoff điều hành công ty của hắn với bàn tay sắt và tuyên bố chỉ có mình hắn chịu trách nhiệm về việc lừa đảo khách hàng, các nhà điều tra vẫn chưa hài lòng với lời giải thích làm sao một người duy nhất có thể che giấu sự gian lận trên quy mô lớn đến như vậy và trong thời gian dài như vậy. Quá trình điều tra sau đó đã đặt sáu cộng sự cũ của Madoff vào vòng điều tra hình sự,2 và nhiều vụ kiện khác đang diễn ra chống lại Ruth Madoff và các con trai bà ta.3



Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

Rắn độc mặc comlê - Chương 1: Bộ comlê đẹp quá. Rắn độc có mặc comlê đẹp vậy không?

Rắn độc mặc comlê

Tác giả: Paul Babiak và Robert Hare
Nguồn: Snakes in Suits: When Psychopaths Go to Work

Fred dẫn cả nhóm vào quán rượu O'Hare sau giờ làm việc tối hôm đó. Anh đặt trả hóa đơn chung rồi bắt đầu gọi đồ uống cho tất cả mọi người trong công ty. Khi nhiều người nữa đến nhập hội, những tiếng reo mừng và chúc tụng bắt đầu nổi lên khi mọi người ăn mừng sự may mắn của họ. Fred nâng cốc lên. Sự im lặng quay trở lại khi mọi người đều nâng cốc hướng về phía anh. “Chó Điên đã chết. Chó Điên sống mãi!”, anh hét lên cùng với niềm vui sướng của tất cả mọi người ở đó.

“Đúng, đúng!” họ vỗ tay hoan hô và cạn cốc, rồi những tràng cười và pháo tay tràn ngập cả quán. Không ai cảm thấy buồn tối hôm đó, một thay đổi lớn so với hầu hết các tối thứ sáu tại quán O'Hare trong suốt hai năm qua.

Mọi thứ ở công ty đều tốt cho đến khi Chó Điên đến. Lương và thưởng đều tuyệt vời, điều kiện làm việc dễ chịu, và cơ hội làm việc cho một trong những công ty lâu đời và được kính trọng nhất trong lĩnh vực này là điều rất có ý nghĩa với nhiều người. Tuy nhiên, như tất cả mọi điều tốt đẹp khác, rồi cũng đến lúc thay đổi. Giám đốc công ty, “Ông già Bailey” như bạn bè ông thường gọi (và hầu hết các nhân viên đều là bạn bè của ông), đã bán công ty dịch vụ tài chính của mình cho một công ty lớn hơn hai năm trước. Mặc dù vậy, như nhiều nhà quản lý thành công khác, ông không muốn thấy mình lặng lẽ chìm vào bóng tối, mà vẫn muốn có một vai trò trong công ty, vì vậy ông đàm phán và nhận một vị trí tư vấn tạm thời trong hội đồng quản trị để hỗ trợ quá trình chuyển đổi.

Hội đồng quản trị hoan nghênh sự giúp đỡ của ông và hoàn toàn thoải mái với việc ông thỉnh thoảng viếng thăm trụ sở công ty cũ (bây giờ là một chi nhánh). Bailey muốn những giá trị cũ mà ông tạo dựng phát triển và lan ra những chi nhánh khác của công ty mới. Nhưng điều đó không thành công. Một công ty lớn có nghĩa là bây giờ có nhiều chi nhánh và địa điểm, và khả năng ảnh hưởng của ông ngày càng giảm dần cùng với mỗi vụ sáp nhập mới. Những chi nhánh khác cũng có những giá trị, những cách làm riêng của họ.

Mặc dù ông đã quyết định không tham gia vào hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, một quyết định làm ông không hài lòng là việc thăng chức cho Gus, “một thằng nhóc nhắng nhít” theo đánh giá của Bailey, vào vị trí Giám đốc điều hành chi nhánh. Bailey coi Gus là một đứa chỉ giỏi xu nịnh, tránh đối đầu, thích đùn đẩy việc khó khăn cho người khác và dễ bị xiêu lòng bởi những lời nịnh nọt. Bailey nghĩ Gus dành quá nhiều thời gian gặp gỡ cấp trên trong công ty và quá ít thời gian điều hành công việc trong chi nhánh của anh ta.

Chẳng bao lâu những bình bia và bát lạc rang được đưa đến các bàn ở phòng trong của quán O'Hare, nơi cả nhóm đang bàn luận các chi tiết trong hồi kết của Chó Điên. Cùng lúc nhân viên từ các phòng ban hòa trộn với nhau, những người chỉ nghe phong phanh tin đồn hỏi thêm thông tin từ người bên cạnh, những người khác thì muốn xác nhận lại các chi tiết họ đã nghe. Thật thú vị khi thu thập những mẩu của câu chuyện và lắp ghép lại thành bức tranh hoàn chỉnh về những gì đã thực sự xảy ra.

Sáu tháng sau khi Gus được bổ nhiệm, mọi thứ bắt đầu rối tung. Lần đầu tiên trong lịch sử lâu đời của nó, chi nhánh của Bailey không đạt được mục tiêu đã định. Kết quả kém đến nỗi các nhà phân tích thị trường bắt đầu đưa ra những nhận xét không mấy dễ chịu, làm ảnh hưởng đến danh tiếng của cả công ty. Tồi tệ hơn nữa, có nguy cơ chi nhánh còn bị phạt một món tiền lớn một cách rất công khai và nhục nhã do không tuân thủ quy định trong một số hợp đồng chính phủ. Điều này chưa đến tai báo chí, nhưng chắc chắn nó sẽ gây chấn động nếu không được giải quyết nhanh chóng. Bailey cảm thấy cần phải cho Gus đi, và đề nghị để mình điều hành chi nhánh cho đến khi tìm thấy ứng cử viên tốt hơn. Hội đồng quản trị công ty không đồng ý. Với mong muốn giúp Gus, họ quyết định đặt ra một vị trí phó giám đốc điều hành dưới quyền anh ta.

Một người thu hút sự chú ý của họ như một ứng cử viên hoàn hảo là Helen. Helen tham gia một trong những chi nhánh được mua lại khác chỉ một năm trước và trở thành ngôi sao sáng trong thời gian ngắn. Bản đánh giá thành tích cá nhân ca ngợi tinh thần, sự siêng năng, khả năng tập trung, nhiệt huyết và những khả năng bẩm sinh khác. Cô đã chứng minh giá trị của mình cho cấp trên, xây dựng nên danh tiếng là một người có khả năng giải quyết mọi việc, hoàn thành tốt các dự án theo đúng tiến độ. Cũng phải thừa nhận rằng có một số thiệt hại xảy ra trong quá trình đó, nhưng điều đó có vẻ không làm các cấp trên của cô quan tâm, và họ đưa cô vào danh sách ứng cử viên cho những vị trí quản lý chủ chốt. Tuy nhiên, bất chấp những đánh giá sáng giá từ cấp trên, chi nhánh của cô vẫn hoạt động kém, trong khi tiếp tục tuyển thêm người, yêu cầu và được chấp thuận ngân sách ngày càng lớn hơn trong hai năm liên tiếp. Bailey tự hỏi làm sao ban quản lý có thể bỏ qua những con số này và đưa một người chỉ quen tiêu tiền phụ trách một chi nhánh đang có vấn đề về tài chính. Nhưng đấy không còn là quyết định của ông nữa rồi.

Helen vượt qua vòng phỏng vấn với ủy ban tìm kiếm một cách xuất sắc. Phong cách năng động, cuốn hút và khả năng chỉnh đốn các vấn đề về tổ chức mà cô tự nhận – những vấn đề mà rõ ràng là chi nhánh của Gus đang có – khiến cô trở thành lựa chọn hiển nhiên cho vị trí đó. Những nhà phân tích bên ngoài công ty cũng sẽ nhìn nhận việc bổ nhiệm một người quyết đoán, năng động và có khả năng như vậy vào một chi nhánh đang thất bại một cách đầy tai tiếng như một cam kết chắc chắn từ phía công ty sẽ đáp ứng các yêu cầu của chính phủ. Phong cách và thái độ của cô đều phù hợp với những gì ban quản trị và các nhà phân tích muốn thấy. Thời gian, hoàn cảnh và vị trí của cô đều có vẻ rất phù hợp.

Lynda, từ bộ phận kế toán, ngồi ở góc phòng nhấp cốc bia. Tiếng trò chuyện khàn khàn của các đồng nghiệp ngồi cùng tạo nên một khung cảnh dễ chịu cho những suy nghĩ riêng tư của cô. “Em phải vui mới phải, Lynda,” Julie, thành viên lâu năm của đội kiểm toán, nói. “Em đã thắng, và [từ tục tĩu bị xóa] đã biến rồi.”

Lynda uống một ngụm bia và mỉm cười bẽn lẽn. Vừa ra trường, cô không bao giờ nghĩ làm việc cho một công ty lớn sẽ như thế này. Vài tháng vừa rồi đã rất khó khăn với cô. Dĩ nhiên là cô có thể xử lý công việc, và còn phổ biến vài kỹ thuật đánh giá bằng máy tính mới được học ở trường đến cho nhóm. Nhưng nỗi đau mà cô đã phải chịu không chịu biến đi.

“Nghe đây, Lyn. Thế giới này gồm đủ loại người, và em không may vớ phải một đứa đểu trong công việc đầu tiên. Nhưng hầu hết mọi người là tốt và muốn làm tốt công việc của mình – em là một trong số họ, và em được bao bọc bởi bạn bè – em đã làm đúng; em là anh hùng của chúng ta.” Ánh mắt cảm thông từ mọi người quanh bàn hướng tới cô, và Julie quàng tay ôm lấy Lynda. Cô mỉm cười.

Lynda không may đã là mục tiêu hành hạ trong bộ phận kế toán. Có thể đó là sự ngây thơ, tuổi trẻ hay xu hướng trung thực của cô, nhưng ngay cả Julie cũng không thể che chắn cho cô hoàn toàn. Julie đã cố gắng bảo vệ cho Lynda khi quá trình kiểm toán của cô đặt ra nhiều dấu hỏi nghiêm trọng về những gì Chó Điên đang làm, nhưng thực lực của Julie không thể lại được với Chó Điên.

Helen thất vọng với quyết định đó. Cô đã nghĩ Gus sẽ bị loại bỏ và cô sẽ nhận được vị trí cao nhất trong chi nhánh. Phó giám đốc nhân sự của chi nhánh giải thích với cô rằng vị trí hiện thời là một vị trí rất nổi bật, có vai trò quyết định trong việc cải thiện hoạt động hàng ngày của chi nhánh. Tất cả mọi người sẽ để ý xem cô có thể giúp Gus xoay chuyển tình thế trong thời gian ngắn không. Cô được cho biết hoàn thành xuất sắc vai trò mới sẽ giúp mang lại những đề bạt nhanh chóng và đáng kể trong tương lai. Thêm vào đó, Helen và Gus được xem như một kết hợp tuyệt vời cho công việc, và mặc dù khá là khác nhau trong cách tiếp cận và phong cách, họ là một đôi rất tốt – cô có thể học từ kinh nghiệm của Gus cũng như Gus học từ cô.

Helen nói cô sẽ nhận công việc mới nếu cô có được sự giúp đỡ cần thiết để thành công, một yêu cầu ai cũng phải thấy là hợp lý. Tổng công ty sẵn sàng làm mọi điều cần thiết và phê duyệt mọi yêu cầu nhằm giải quyết vấn đề đáng xấu hổ trong lịch sử công ty này. Do vậy, hoàn toàn ngược lại với những kiểm soát tài chính chặt chẽ ở những chỗ khác trong công ty, Gus và Helen gần như có bất cứ thứ gì họ yêu cầu. Với những đảm bảo như vậy, và gần như một tấm séc trắng đã ký sẵn, Helen đồng ý nhận công việc.

Chỉ sau hơn sáu tháng, những vấn đề gây phiền phức cho chi nhánh dường như đã biến mất. Tỷ lệ đạt yêu cầu trong thực thi các hợp đồng chính phủ tăng lên đến 95%, những sai sót (về con người, chương trình máy tính và thủ tục) mà lúc trước dẫn đến những vấn đề đó được tìm ra và nhanh chóng khắc phục, và câu hỏi về việc tuân thủ quy định chính phủ đã biến đi một cách lặng lẽ. Một mình Helen nhận được hầu hết sự khen ngợi trong việc cứu chi nhánh. Ngay cả Gus cũng tỏ lời khen cô, đặc biệt là về đạo đức nghề nghiệp, sự siêng năng và cống hiến cho công việc.

Fred đi một vòng đến từng nhóm nhỏ trong phòng. Những lời chúc tụng và cạn cốc phát ra ở mỗi nhóm anh đến. Những mẩu hội thoại sôi nổi cũng được nghe thấy trên nền âm thanh chung. Rick, ở phòng thư tín, xác nhận là cảnh sát bang đã có mặt ở cửa sau để giữ tất cả mọi người ở lại bên trong. “Và có hai tay mặc com-lê đen mang máy tính, giấy tờ và cả giấy vụn trong sọt rác nữa,” anh ta thuật lại. Sheila, ở bộ phận an ninh, xác nhận đã nhận được điện thoại sáng hôm đó, tiếp đến là mệnh lệnh đặt các nhân viên an ninh ở cửa trước. “Vâng, còng tay nữa,” cô trả lời thắc mắc của đám nhân viên tiếp thị.

Không ai ngạc nhiên khi Gus bị thuyên chuyển khỏi vị trí – có lẽ ngoại trừ Gus – sau khi Helen nói với các thành viên hội đồng quản trị về những lỗi lầm của anh ta trong kết quả kinh doanh đáng thất vọng lúc trước. Cô có những ý tưởng thông minh, rất nhiều nhiệt huyết và rất bền bỉ trong việc giành lấy những gì cô muốn. Cô xây dựng nên một câu chuyện nghe rất có lý về khả năng quản lý yếu kém của Gus, đồng thời làm nổi bật vai trò của cô. Helen có cá tính cực kỳ cạnh tranh, rất mạnh mẽ trong giao tiếp với người khác và rất thích là trung tâm của mọi sự chú ý. Việc xoay chuyển tình thế ở chi nhánh đã cho cô bàn đạp cần thiết để vươn tới một sự nghiệp lớn ở công ty. Nói chung, cô đã khiến họ tin rằng cô có tất cả những đức tính cần thiết để lãnh đạo một công ty lớn. Cô là lựa chọn hiển nhiên để thay thế Gus, và đã được thăng cấp lên vị trí giám đốc điều hành chi nhánh của Gus.

Cánh cửa trước của quán O'Hare mở từ từ. Một người đàn ông to lớn đứng ở đó trong bộ áo choàng dài màu đen. Ông liếc nhìn đồng hồ và tiến về phía quầy rượu. O'Hare đứng ở quầy tối hôm đó và gật đầu chào ông. Tháo găng tay đen ra, người đàn ông gọi một cốc rượu cốc-tay gừng. O'Hare gật đầu và đi pha cốc rượu.

Dĩ nhiên không phải ai cũng thích Helen, và một số nhân viên không tin tưởng cô ta. Cô đối xử với cấp dưới với thái độ coi thường và khinh thị, thường chế giễu khả năng làm việc của họ. Ngược lại, với những người mà cô ta thấy hữu ích cho sự nghiệp của mình, cô ta tỏ ra duyên dáng, hấp dẫn và luôn vui vẻ. Cô có biệt tài trưng ra mặt tốt của mình cho những người cô cảm thấy quan trọng, trong khi bôi nhọ và loại trừ bất cứ ai không đồng ý với những quyết định của cô.

Helen trở nên nổi tiếng về tài rót vào tai cấp trên những gì họ muốn nghe. Cô ta chuẩn bị cho những cuộc gặp với ban quản trị như chuẩn bị quay phim ở Hollywood. Cô bắt tất cả cấp dưới phải báo cáo theo những kịch bản đã thỏa thuận trước, và dành tất cả những câu hỏi bất ngờ hoặc khó trả lời cho cô. Theo các đồng nghiệp, Helen là bậc thầy trong nghệ thuật gây ấn tượng, và cô ta đã thành công trong việc điều khiển cấp trên, đe dọa cấp dưới và nắm chặt tất cả những ai quan trọng với cô ta.

Cầm cốc rượu của mình lên, người đàn ông nhìn quanh quán. Ơ đây yên tĩnh ngoại trừ tiếng ồn từ căn phòng phía sau. Vị khách gọi một cốc nữa, đặt thẻ tín dụng của mình lên bàn. O'Hare rót đầy cốc, đặt lên bàn rồi cầm thẻ tín dụng đi trừ tiền.

Sau khi vụ rắc rối với chính phủ đã trở thành dĩ vãng và Gus không còn là vật cản, Helen bắt đầu bộc lộ phong cách quản lý độc đoán của mình. Mỗi buổi họp với nhân viên là một màn diễn đầy kịch tính và các nhân viên thường cảm thấy bầm dập, nhục nhã sau mỗi cuộc gặp mặt với cô ta. Cô ta thường sùng sục đi quanh khu văn phòng mới – mà cô ta vừa thuê chỉ vì cô ta muốn có một căn phòng làm việc rộng hơn cho mình – không chào hỏi ai, tuôn ra mệnh lệnh cộc lốc và nói chung là dọa nạt, xô đẩy mọi nhân viên.

Phong cách này hoàn toàn trái ngược với Bailey, một người mà cửa phòng làm việc luôn mở rộng, một người thường xuyên đi tiếp xúc với nhân viên, lắng nghe ý kiến mới để cải thiện doanh nghiệp. Bailey quý trọng nhân viên của mình và làm họ phải kinh ngạc với khả năng nhớ tên vợ hoặc chồng của họ hay nhớ những thành tích mà con cái họ đạt được. Bailey là một con người của công chúng, một người không chỉ cực kỳ thông minh mà còn rất biết cách kiếm tiền, và ông kiếm rất nhiều tiền. Ông biết rằng thành công của ông – thành công của doanh nghiệp – phụ thuộc vào chất lượng của các nhân viên và ông chia sẻ vinh quang cũng như bổng lộc với mọi người xung quanh.

Trong vài tháng sau đó, Helen tuyển nhóm nhân viên mới của riêng cô ta, thay thế nhiều đối thủ to mồm trong đám nhân viên kỳ cựu ở chi nhánh. Dựa trên cảm tính cá nhân khi tuyển nhân viên, cô ta thường đưa ra những món thưởng lớn để lôi kéo các tài năng trẻ tuổi rời khỏi công việc hiện thời của họ, và rồi nếu cô ta quyết định – chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần – rằng họ không phù hợp với mình, lập tức cho họ nghỉ việc. Cô ta sa thải hầu hết nhóm người mới tuyển một cách cực kỳ nhanh chóng khi cô ta cảm thấy họ không đủ năng lực hay không cần thiết. Không hề có sự quan tâm về những tổn hại mà cô ta đã gây ra với sự nghiệp và cuộc sống gia đình của những người đó, hay những vấn đề pháp lý mà cô ta có thể gây ra cho công ty.

Helen dường như có thể làm bất kỳ điều gì cô ta muốn mà không làm sao, bao gồm cả việc mua sắm những thứ xa xỉ nhất như máy tính, xe hơi, căn hộ riêng hay bất cứ thứ đồ dùng để phô trương quyền lực nào khác. Helen bày ra một chuỗi hội thảo dành riêng cho ban quản lý ở những điểm du lịch nhiệt đới rất tốn kém, với những khách mời nổi tiếng, trong đó cô ta trưng bày những thành tích của chi nhánh mà cô ta nhận tất cả công trạng. Bản báo cáo thành tích của cô ta không hề khớp với sự thiếu gắn kết diễn ra lâu nay trong nội bộ chi nhánh – nhưng bằng cách nào đó, không ai ở ngoài chi nhánh nhận thấy điều này.

Cô ta không muốn và có lẽ không có khả năng thừa nhận rằng những quyết định của cô ta có thể mang đến hậu quả tiêu cực cho doanh nghiệp. Bất cứ ai đặt câu hỏi về hành vi của cô ta đều nhận được những phản ứng dữ dội, ví dụ như khi cô ta sa thải một chuyên viên quản lý mà tổng công ty thuê để giúp cô ta. Cô ta không bao giờ sai mà chỉ có đúng và chỉ quan tâm đến những tin tức tốt đẹp. Nhân viên phẫn nộ với cách cô ta diễu qua diễu lại như một nữ hoàng. Cô ta rất thích phô trương địa vị, quyền lực và những đặc quyền mà cô ta có trong công ty, bao gồm cả một máy bay riêng mà tổng công ty thuê cho cô ta. Cô ta có nhiều kẻ thù, nhưng nhiều nhân viên cũng sợ cô ta.

Người đàn ông ở quán liếc nhìn đồng hồ một lần nữa và nhìn quanh quán như thể tìm kiếm ai đó. “Họ ở trong kia,” O'Hare nói, gật đầu về phía cánh cửa ra phòng sau. “Tôi không nghĩ là họ đang đợi ông, nhưng ông cứ đi thẳng vào cũng được.”

Điều làm các nhân viên thực sự khó chịu là sự vắng mặt ngày càng tăng của Helen, trong khi lúc Gus còn phụ trách thì cô ta gần như sống trong phòng làm việc. Trợ thủ của cô ta, Ned – một gã bạn thân mà cô ta bổ nhiệm vào một vị trí phát triển kinh doanh mới – cũng thường vắng mặt cùng lúc, gây ra những tin đồn không mấy tốt lành. Một tin đồn nghiêm trong hơn là về việc anh ta hoạt động một doanh nghiệp khác nữa bên lề, mặc dù chính sách của công ty cấm điều đó. Sự có mặt của Ned gây ra bực bội trong các nhân viên, nhưng Helen bảo vệ anh ta và không ai dám mâu thuẫn hay đặt câu hỏi về anh ta.

Với cốc rượu trong tay, người đàn ông nhẹ nhàng đẩy cửa vào phòng trong. Không ai nhận thấy ông, ngoại trừ Fred.

“Ned bị tóm trong căng tin đang uống cafe,” Sheila thuật lại. “Khi họ còng tay hắn, hắn ta phản đối um sùm, đòi gọi điện cho luật sự!”

“Thế còn chuyện Chó Điên tìm cách thoát bằng máy bay?” Sam, một người luôn biết về các tin đồn cuối cùng, hỏi.

Nhìn thấy ai vừa bước vào phòng, Fred đặng hắng lớn tiếng để cảnh báo mọi người, nhưng chẳng mấy ai nghe thấy. Anh bắt đầu gõ vào cái cốc trước mặt bằng cái nhẫn của mình để thu hút sự chú ý. Nhiều người bắt đầu nhận thấy sự có mặt của người đàn ông mới vào. Tiếng ồn ào nhỏ dần thành tiếng thì thầm, và tiếng thì thầm tắt hẳn thành im lặng hoàn toàn.

Vụ gian lận bị phát hiện vừa thông minh lại vừa táo tợn. Không ai ngờ được rằng những khách hàng góp phần chủ yếu vào sự xoay chuyển tình thế và sự phát triển của chi nhánh là hoàn toàn hư cấu, và rằng Ned và Chó Điên là một nhóm lừa đảo. Các nhân viên cũng không hề biết rằng một số khách hàng lớn của chi nhánh cũng hoàn toàn do Ned bịa ra để thổi phồng kết quả kinh doanh. Không ai có thể tưởng tượng họ đã làm việc ngay cạnh một đôi lừa đảo.

Người đàn ông nhìn qua các gương mặt trong phòng, mỉm cười với những ai ông vẫn còn nhận ra. Thấy Shirley ở bàn sau, ông tiến về nhóm đó. Hầu hết mọi người ở đó đã đứng lên, nhưng Lynda, ngồi quay lưng ra cửa, vẫn còn chìm sâu trong suy nghĩ. Ông đi đến đâu, đám đông rẽ ra đến đó. Đứng bên cạnh cô, ông hỏi, “Cháu có phải Lynda không?” Giật mình khỏi cơn mơ màng, cô quay lại và thấy người đang đứng bên cô.

Ít có công ty nào trải qua vụ tai tiếng nổi đình nổi đám như hôm đó. Cuối cùng, các nhà chức trách khám phá được rằng Helen, dùng mã truy cập máy tính mà cô ta lấy được từ bộ phận công nghệ thông tin, đã thực hiện những thay đổi rất nhỏ trong tài khoản của nhiều khách hàng, dần dần chuyển một số tiền lớn vào tài khoản ngân hàng nước ngoài của cô ta. Ned, tình cờ có mặt ở văn phòng hôm đó, đã nhìn thấy cảnh sát đến và có đủ thời gian để gọi điện báo cho Helen trước khi lao khỏi phòng về phía lối ra ở căng tin và rơi vào tay cảnh sát. Helen may mắn hơn. Trong khi những chiếc xe không đánh dấu đi dọc phố về phía nhà cô ta, cô ta trốn khỏi cửa sau ngôi biệt thự, chạy qua vườn sau ra phố, nơi cô ta luôn đậu chiếc ô tô thứ hai sẵn sàng cho những vụ khẩn cấp như vậy. Trong khi chiếc máy bay do công ty thuê bị theo dõi, không ai tưởng tượng được rằng cô ta còn thuê một chiếc máy bay tư nhân khác ở sân bay địa phương phía bên kia thị trấn.

“Vâng, thưa ngài,” Lynda rụt rè nói.

“Chú muốn gửi lời cảm ơn của cá nhân chú về tất cả sự giúp đỡ của cháu. Chú thực sự đánh giá cao lòng can đảm và tính trung thực của cháu.”

“Ngài Bailey,” Fred tiến đến sau ông nói, “thật tuyệt khi thấy ngài ở đây. Xin chào mừng ngài đến với buổi gặp mặt nhỏ của chúng tôi.”

“Tôi cũng vui mừng khi gặp lại anh, Fred. Có vẻ như chúng ta đã hết bia rồi,” ông nói đầy hàm ý rồi ngồi xuống ghế bên cạnh Lynda. “Mọi người, bữa tiệc hôm nay là tôi chi,” Ông già Bailey nói. “Fred, anh có thể lấy một cốc nữa cho tôi được không? O'Hare biết tôi uống gì.”

Về tác giả:

Tiến sĩ Paul Babiak là một nhà tâm lý học chuyên về tổ chức doanh nghiệp và là giám đốc của HRBackOffice, một công ty tư vấn trong lĩnh vực phát triển nhân sự cấp cao. Những bài viết của ông đã được đăng trên các tờ New York Times, Washington Post, Harvard Business Review và nhiều tờ báo khác.

Tiến sĩ Robert D. Hare là tác giả cuốn Without Conscience (Không có lương tâm) và là người phát minh Bản Kiểm tra Thái nhân cách (The Pychopathy Checklist), công cụ chẩn đoán chứng thái nhân cách được sử dụng rộng rãi hiện nay. Ông là giáo sư danh dự khoa tâm lý học ở trường Đại học British Columbia, và là giám đốc Darkstone Research Group, một công ty nghiên cứu và tư vấn pháp y. Ông đã dành được rất nhiều giải thưởng cho những nghiên cứu về chứng thái nhân cách.