Hiển thị các bài đăng có nhãn thái nhân cách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thái nhân cách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Ngợi ca những linh hồn trống rỗng - Chúng ta có thể học từ kẻ thái nhân cách không?

Tác giả: Martha Stout
Nguồn: New Republic
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Nhận xét: Trong những năm gần đây, để đối phó với nhận thức ngày càng gia tăng về kẻ thái nhân cách và những gì chúng gây ra trong xã hội, nhiều thông tin giả mạo, sai lệch bắt đầu được tung ra để thao túng nhận thức của công chúng về chủ đề này. Một trong các luồng thông tin hỏa mù đó là xu hướng ca ngợi những "đức tính" của kẻ thái nhân cách và gợi ý rằng người bình thường chúng ta có thể học hỏi nhiều điều từ chúng, với ví dụ điển hình là cuốn sách Sự Khôn ngoan của Kẻ Thái nhân cách: Những gì Các Thánh nhân, Gián điệp và Kẻ Giết người Hàng loạt có thể Dạy Chúng ta về Sự Thành công (The Wisdom of Psychopaths: What Saints, Spies, and Serial Killers Can Teach Us About Success) bởi Kevin Dutton. Dưới đây là bài viết của Martha Stout, tác giả cuốn Kẻ Thái nhân cách ở Nhà bên, đập tan những luận điểm xuyên tạc trong cuốn sách trên của Dutton.

Để biết thêm về chứng thái nhân cách, mời các bạn xem Tập hợp các bài viết về chứng thái nhân cách trên blog này

Cách đây nhiều năm, khi còn là một sinh viên, tôi tham dự một số bài giảng của một nhà nhân chủng học nổi tiếng, người có tài cuốn hút người nghe với những câu chuyện kỳ lạ và hấp dẫn về một nhóm người bản địa mà ông đã sống cùng tại một góc xa xôi nào đó của hành tinh. Những mẩu chuyện đó rất gây ấn tượng. Thật vậy, một số mẩu chuyện tuyệt vời đến mức khi kết thúc bài giảng, tôi tin chắc rằng tôi vừa được nghe những sự thật trái với quan niệm thông thường nhưng rất quan trọng về hành vi con người. Chỉ đến bài giảng cuối cùng tôi mới có ý niệm mơ hồ rằng các “sự thật” này không có liên quan mấy với thực tế. Khá hân hoan trong sự khinh bỉ của mình, một trong những phụ giảng đang làm nghiên cứu sinh của ông ta thì thầm với tôi rằng, khi đi thực tế, nhà nhân chủng học đã cho người dân bản địa kẹo sôcôla để đổi lấy những câu chuyện về bản thân họ - câu chuyện càng khác thường bao nhiêu thì sôcôla càng nhiều bấy nhiêu. Các sinh viên đang say sưa ghi chép của ông ta trở thành ví dụ minh họa về việc tâm trí con người dễ dàng chấp nhận những điều kỳ lạ và hấp dẫn là chân lý khoa học đến mức nào.

Mặc dù không có lý do để nghĩ rằng kẹo sôcôla có vai trò gì ở đây, tôi lo ngại rằng một hiện tượng tương tự có thể xảy ra với các độc giả cuốn sách Sự Khôn ngoan của Kẻ Thái nhân cách bởi Kevin Dutton, một nhà tâm lý học tại trường đại học Oxford. Luận điểm bắt mắt của Dutton là thế này: “Thái nhân cách giống như là ánh sáng mặt trời. Tiếp xúc quá nhiều có thể đẩy nhanh con người đến hồi kết với căn bệnh ung thư khủng khiếp. Nhưng sự tiếp xúc có kiểm soát ở những mức độ tối ưu có thể có tác động tích cực đáng kể đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống.” Thái nhân cách, Dutton đề xuất, là “nhân cách với một nước da rám nắng đẹp đẽ”.

Kỳ lạ thay, không một lần nào trong cuốn sách về thái nhân cách này Dutton định nghĩa chính xác thái nhân cách là gì. Vì vậy, tôi sẽ làm vậy ở đây. Thái nhân cách là một hội chứng rối loạn của não bộ và hành vi, trong đó đặc tính trọng tâm là sự thiếu vắng hoàn toàn của lương tâm. Tất cả các đặc tính bệnh lý khác của nó (như nhẫn tâm, dối trá thường xuyên, và tàn ác) đều bắt nguồn từ sự thiếu vắng của lương tâm này. Thêm vào đó, như là dấu hiệu báo trước của những sai lầm lớn trong lập luận, Dutton không một lần nào thảo luận về khái niệm lương tâm, và trong toàn bộ cuốn sách, ông ta nhắc đến từ đó - lương tâm - tất cả bốn lần, mà cũng chỉ thoáng qua.

Cái mà Dutton đề cập đến là những phép ẩn dụ hào nhoáng, một số lượng hào phóng các câu chuyện cá nhân được viết cực kỳ tốt, và nhiều ám chỉ đến những nghiên cứu tâm lý và thần kinh hấp dẫn. Điều không may là hầu hết các nghiên cứu khoa học mà ông ta trích dẫn may ra thì có liên quan một cách lập lờ đến luận điểm của ông ta, tệ hơn thì hoàn toàn sai lạc. Nhìn chung, cuốn sách để lại cho độc giả ấn tượng rằng thái nhân cách bao gồm những đặc điểm như không biết sợ, bất cần đời, và một cuộc sống không bị gánh nặng bởi những gì người khác nghĩ. Hiện thực mang nghĩa đen hơn thế: Không ai có nghĩa gì với kẻ thái nhân cách.



Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Video: Thiên đường bị đánh cắp

Tác giả: Stefan Verstappen
Nguồn: chinastrategies.com

Chúng ta đang ở trong tình trạng này của chúng ta, tình trạng chiến tranh, tình trạng suy thoái kinh tế, tình trạng tài nguyên kiệt quệ, là bởi vì lòng tham của những kẻ thái nhân cách. Chúng nghĩ rằng chúng có thể tạo ra thế giới của riêng chúng. Hãy nhìn cái thế giới chúng đã tạo ra này.
Laura Knight-Jadczyk

Để xem phụ đề tiếng Việt, nhấn vào chữ CC ở góc dưới bên phải video rồi chọn Tiếng Việt.


Thiên đường bị đánh cắp - Đừng cho con cái bạn xem


Thiên đường bị đánh cắp - Chuyện hoang đường về sự hiệu quả



Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Không có Lương tâm: Ba câu chuyện về kẻ thái nhân cách trong đời thường

Rắn độc mặc complê

Tác giả: Giáo sư, tiến sĩ Robert D. Hare
Nguồn: Sách Không có Lương tâm (Without Conscience)
Nguồn dịch: Blog Some Stories

Không có Lương tâm - Chương 1: "Trải nghiệm" Kẻ Thái nhân cách

Những người tốt hiếm khi ngờ vực. Họ không thể tưởng tượng người khác làm những việc mà họ không thể làm. Họ thường chấp nhận những lời giải thích đơn giản là đáp án đúng, và để vấn đề dừng lại ở đó. Người bình thường có khuynh hướng tưởng tượng kẻ thái nhân cách có bề ngoài cũng kinh sợ như nội tâm của hắn. Điều đó hoàn toàn khác xa sự thật... Những con quỷ có thật này thường có vẻ ngoài và hành vi bình thường như những anh, chị, em bình thường khác của chúng, Chúng bày ra vẻ ngoài đức hạnh còn thuyết phục hơn cả đức hạnh chân chính có thể có; cũng giống như các bức tượng sáp hay những trái đào bằng nhựa trông hoàn hảo hơn trong mắt chúng ta, giống với hình ảnh của một người đẹp hay quả đào trong tâm trí ta tưởng tượng, hơn là bản gốc của chúng.

— William March, The Bad Seed

Tôi có thể thấy dòng máu đen từ miệng Halmea nhỏ giọt xuống tấm khăn trải giường gần phần cơ thể của cô bên dưới Hud. Tôi không động đậy hay chớp mắt, nhưng Hud đứng dậy cười toe toét với tôi trong khi hắn khóa lại cái thắt lưng màu ruby. "Một cô gái ngọt ngào đúng không?" hắn ta hỏi. Hắn huýt sáo và xỏ chân vào đôi bốt da đỏ. Halmea cong mình về phía bức tường...

— Larry McMurty, Horseman, Pass By

Sau nhiều năm, tôi đã quen với trải nghiệm sau đây. Để đáp lại câu hỏi nhã nhặn của người bạn cùng ăn tối về công việc của mình, tôi phác thảo vắn tắt các đặc trưng khác biệt của kẻ thái nhân cách. Luôn luôn, ai đó cùng bàn đột nhiên có vẻ trầm tư rồi kêu lên: "Trời đất -- tôi nghĩ ai đó và ai đó là thái nhân cách". Hoặc, "Ông biết không, trước đây tôi chưa từng nhận ra, nhưng người ông miêu tả giống hệt anh rể tôi".

Những hồi đáp lo lắng, trầm tư ấy không giới hạn trong các lĩnh vực xã hội. Thường xuyên, những người đọc công trình của tôi gọi cho phòng nghiên cứu để mô tả một người chồng, đứa trẻ, một người chủ, hay một người quen có những hành vi không thể giải thích được khiến họ sầu khổ và đau đớn trong nhiều năm.

Không gì cho thấy rõ ràng về sự cần thiết làm rõ và phản ánh về chứng thái nhân cách hơn những câu chuyện đời thực của nỗi thất vọng và sự tuyệt vọng. Ba câu chuyện trong chương này cung cấp một cách tiếp cận dễ dàng hơn đến chủ đề kì lạ và mê hoặc này bằng cách truyền tải cái cảm giác đặc trưng "có gì đó không ổn ở đây nhưng tôi không xác định chính xác được".

Một câu chuyện là từ nhà tù, nơi hầu hết các cuộc nghiên cứu về thái nhân cách diễn ra (vì lý do thực tế là có rất nhiều kẻ thái nhân cách trong nhà tù và những thông tin cần thiết để chẩn đoán chúng luôn có sẵn)

Hai câu chuyện còn lại là từ cuộc sống thường ngày, vì những kẻ thái nhân cách không chỉ ở trong tù. Cha mẹ, con cái, vợ chồng, người yêu, đồng nghiệp, và các nạn nhân không may mắn ở khắp mọi nơi vào lúc này đang cố gắng đối phó với sự hỗn loạn và bối rối mà những kẻ thái nhân cách gây ra và cố hiểu điều gì khiến chúng làm vậy. Nhiều người trong số các bạn có thể tìm thấy những điểm tương đồng đáng ngại giữa các cá nhân trong những ví dụ này và những người khiến bạn nghĩ rằng bạn đang sống trong địa ngục.



Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Tính nan giải của cuộc đối đầu Nga-Mỹ: Kẻ thái nhân cách không chịu nổi sự thật

Putin: Mục tiêu của bộ máy tuyên truyền phương Tây

Tác giả: Joe Quinn
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Trong trường hợp bạn chưa nhận ra, một cuộc chiến tranh đã và đang diễn ra quanh bạn trong 12 tháng qua. Không phải một cuộc chiến tranh “nóng”, mà là một cuộc chiến tuyên truyền khổng lồ thường đi trước các động thái quân sự.

Cuộc tấn công tuyên truyền toàn diện của Hoa Kỳ chống lại Nga bắt đầu từ hồi năm 2006 với cái chết do ngộ độc polonium của nhà hoạt động chống Putin, Alexander Litvinenko. Bất chấp thực tế rằng trước Litvinenko, vụ giết người duy nhất bằng cách đầu độc với polonium là vụ sát hại Yasser Arafat, giới truyền thông phương Tây ngay lập tức buộc tội Putin cho cái chết của Litvinenko và vẫn làm vậy từ đó tới giờ.

Đầu năm nay, một cuộc điều tra của chính phủ Anh về cái chết của Litvinenko bắt đầu và những lời cáo buộc tương tự, dựa trên kiểu lập luận “mọi người đều biết Putin là một tên du côn” mà không có chút bằng chứng nào, lại được đưa ra. Một mẩu thông tin nhỏ được tiết lộ bởi cuộc điều tra hoàn toàn đánh tan mọi cáo buộc rằng Putin có bất cứ liên quan gì đến cái chết của Litvinenko. Tuy nhiên, mẩu thông tin đó đã bị cố tình lờ đi bởi giới truyền thông phương Tây.

Theo câu chuyện của chính phủ Anh, nhà hoạt động chống Putin này đã bị thủ tiêu bởi hai nhân viên FSB, những kẻ đã đầu độc ông ta với chất độc phóng xạ bằng cách cho ông ta uống phần nước chè còn lại trong một ấm trà (khoảng nửa cốc) mà họ gọi trong một khách sạn ở London. Vấn đề với tuyên bố này là ở chỗ Litvinenko tự mình sắp xếp cuộc gặp gỡ với hai người đàn ông ấy một cách tự phát chỉ vài giờ trước đó. Vì vậy, để tin rằng hai nhân viên này đã giết hại đồng chí cũ của họ, chúng ta phải giả định rằng bằng cách nào đó họ nghi ngờ rằng Litvinenko sắp yêu cầu gặp mặt và mang sẵn một gói polonium cho dịp ấy. Thêm vào đó, một trong hai nhân viên giới thiệu đứa con trai 8 tuổi của mình cho Litvinenko, thậm chí còn bảo nó bắt tay, sau khi Litvinenko đã uống một ít nước chè được cho là có chất phóng xạ ấy. Vợ của Litvinenko, Marina, khai với nhân viên điều tra rằng vào thời điểm cái chết của ông ta, Litvinenko làm việc cho MI6.

Bài phát biểu khá nổi tiếng của Putin tại Hội nghị An ninh Munich năm 2007 được cho là thời điểm mà Nga công khai và đơn phương “chia tay” với phương Tây. Nhưng bài phát biểu của Putin được đưa ra sau nhiều năm trời chính quyền Hoa Kỳ và Anh cố gắng gây bất ổn cho chính quyền Nga, cả công khai lẫn bí mật, nhằm buộc họ chấp nhận sự cai trị tối cao của đế quốc Anh – Mỹ. Thay vì cúi đầu trước áp lực này, Putin đã chọn cách tiêm một liều sự thật và thực tiễn cho những kẻ hiếu chiến:

Lịch sử nhân loại chắc chắn đã trải qua những giai đoạn đơn cực, và chứng kiến những khát vọng hướng tới uy quyền tối cao trên thế giới. Còn gì chưa xảy ra trong lịch sử thế giới cơ chứ? Và một thế giới đơn cực là thế nào? Cho dù ai đó có tô vẽ từ ấy thế nào chăng nữa, cuối cùng nó vẫn trỏ đến một tình huống, trong đó chỉ có một trung tâm của quyền lực, một trung tâm của sức mạnh, một trung tâm đưa ra quyết định.

Đó là thế giới trong đó có một chủ nhân, một chủ quyền. Và suy cho cùng, điều này là nguy hiểm, không chỉ đối với những người nằm trong hệ thống này, mà còn đối với chính chủ quyền duy nhất ấy bởi vì nó tự phá hủy bản thân nó từ bên trong.

Và điều này chắc chắn không có điểm gì liên quan đến dân chủ. Bởi vì, như các bạn đã biết, dân chủ là quyền lực của số đông thay vì lợi ích và ý kiến của số ít.

Nhân tiện, nước Nga chúng tôi liên tục được dạy dỗ về dân chủ. Nhưng vì một lý do nào đó, những kẻ dạy dỗ chúng tôi tự họ không muốn học. Ngày nay chúng ta đang chứng kiến việc sử dụng quá mức, gần như không có giới hạn, của sức mạnh - sức mạnh quân sự - trong quan hệ quốc tế, và sức mạnh ấy đang ném thế giới vào vực thẳm của những cuộc xung đột không dứt. Chúng ta đang chứng kiến một thái độ khinh thị ngày càng lớn đối với những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Một số quốc gia, đầu tiên và trên hết là Hoa Kỳ, đã vượt quá biên giới quốc gia của mình trong mọi lĩnh vực. Điều này có thể thấy rõ trong các chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục mà họ áp đặt lên các nước khác. Vâng, ai thích điều đó? Ai chấp nhận được điều đó?



Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

Holocaust 2.0: Quyết định tối thượng của lương tâm

Sebastian Haffner
Sebastian Haffner

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Cả thế giới trở nên xa lạ và đáng ngại. Ngoài những quy tắc kỳ thú mà tôi biết, cuộc chơi lớn rõ ràng có các quy tắc bí mật khác mà tôi không nắm bắt được. Chắc chắn có điều gì đó gian dối và phản trắc về nó. Tôi có thể tìm thấy sự ổn định và an ninh, đức tin và sự tự tin ở đâu, nếu các sự kiện thế giới mang tính lừa đảo đến vậy? Lỡ chẳng may chiến thắng rồi lại chiến thắng cuối cùng chỉ dẫn đến thảm họa và những quy tắc thực sự của lịch sử chỉ được tiết lộ khi mọi sự đã kết thúc với sự đổ vỡ hoàn toàn? Tôi nhìn đăm đăm vào hư không. Tôi cảm thấy một nỗi kinh hoàng cho sự sống. (Thách thức Hitler, trang 27)

Đó là cách một thanh niên người Đức mô tả trải nghiệm của mình về những sự kiện dẫn đến sự ra đời của Đức Quốc xã. Tên ông là Sebastian Haffner. Sau này ông trở thành nhà báo, nhà sử học, và cuốn hồi ký của ông, Defying Hitler (Thách thức Hitler), cung cấp một cái nhìn thẳng thắn và sâu sắc về tác động thực sự của chủ nghĩa Quốc xã: ảnh hưởng của nó lên cuộc sống nội tâm của những người đã trải qua nó.

Những cuốn sách như Thách thức Hitler là rất thiết yếu nếu nhân loại muốn có hy vọng học được cách để thoát khỏi cái chu trình dường như vô tận của sự sung túc, rồi ngu dốt, rồi áp bức và rồi hủy diệt lẫn nhau. Những tài liệu khô khan như sách lịch sử quân sự, hồi ký chính trị, phân tích học thuật và các bản tin đều có thể cung cấp một số chi tiết quan trọng, nhưng chúng bỏ qua điểm mấu chốt. Chúng bỏ qua trọng tâm của vấn đề, điều khiến nó trở nên quan trọng. Nói một cách ngắn gọn, chúng thiếu chiều sâu tâm lý.

Lý thuyết kinh tế, cơ sở lý luận và chính sách của các đảng phái, bầu không khí chính trị, các sự kiện địa chính trị lớn - tất cả những thứ đó chỉ là vỏ ngoài che đậy cái thứ bên trong mà đối với nó, nhân loại có một nỗi sợ hãi và ghê tởm gần như bản năng, nhưng không thể gọi tên nó ra được. Nó ẩn giấu, như những “quy tắc bí mật” trên, dưới đáy sâu. Và các sự kiện mà chúng ta thấy diễn ra trong các bản tin chỉ gợi ra chút dấu vết nhỏ nhất về những gì đang thực sự xảy ra.

Đây là cách Haffner mô tả nó ở phần đầu cuốn sách của ông:

Lịch sử chính thức trong sách giáo khoa, như tôi đã nói, không cho chúng ta biết chút gì về sự khác nhau trong tính mãnh liệt giữa các sự kiện lịch sử. Để biết điều đó, bạn phải đọc tiểu sử, không phải tiểu sử của các chính khách mà là tiểu sử rất hiếm hoi của những cá nhân vô danh. Ở đó bạn sẽ thấy một sự kiện lịch sử đi qua cuộc sống cá nhân của tác giả như đám mây bay qua hồ nước. Không chút gợn sóng nào, chỉ có cái bóng thoáng qua. Một sự kiện khác khuấy động hồ nước lên như trong cơn bão. Trong một khoảnh khắc nhất định, nó không còn nhận ra được nữa. Một sự kiện thứ ba có thể rút cạn cả cái hồ. (Thách thức Hitler, trang 7)

Điều gì khiến một sự kiện chỉ là đám mây tương đối yên tĩnh trong khi một sự kiện khác là cơn giông bão? Ít nhất một phần là ở chỗ nó ảnh hưởng đến cá nhân chúng ta như thế nào. Người có thể chết, thậm chí chết với số lượng lớn, nhưng ngoại trừ chút bứt rứt nhè nhẹ trong lương tâm, nó ảnh hưởng gì đến chúng ta? Cuộc sống vẫn tiếp diễn. Công việc, mối quan hệ, sở thích. Cuộc sống vẫn bình thường.



Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Nghiên cứu cho thấy những kẻ thái nhân cách không học được từ việc bị trừng phạt

Khác biệt giữa não kẻ thái nhân cách và người bình thường
Sự khác biệt giữa não của kẻ thái nhân cách (phải) và người bình thường (trái).

Tác giả: Fiona MacDonald
Nguồn: Science Alert
Nguồn dịch: Tâm Lý Học Tội Phạm

Các tội phạm thái nhân cách bạo lực không rút kinh nghiệm được từ sự trừng phạt như hầu hết những người bình thường, một nghiên cứu mới trên ảnh MRI tiết lộ.

Sau khi quét ảnh não bộ của 32 tội phạm bạo lực, các nhà nghiên cứu người Canada và Anh phát hiện rằng những kẻ mắc chứng thái nhân cách có dị biến ở các khu vực não liên quan đến việc rút kinh nghiệm từ việc bị trừng phạt.

Nghiên cứu này vô cùng quan trọng trong việc tìm ra phương thức tốt nhất để ngăn chặn người ta phạm tội. “Một trong số 5 kẻ tội phạm bạo lực là thái nhân cách,” Sheilagh Hodgins, một trong những nhà nghiên cứu chính từ đại học Montreal nói trong phỏng vấn. “Chúng có tỉ lệ tái phạm cao hơn và các chương trình giáo huấn không mang lại lợi ích gì cho chúng. Nghiên cứu của chúng tôi vén màn bí mật tại sao lại như vậy.”

Nghiên cứu cũng làm nổi bật khác biệt trong não bộ giữa những tội phạm bạo lực thông thường và những tội phạm bạo lực mắc chứng thái nhân cách.

“Những tội phạm thái nhân cách khác biệt so với những người phạm tội thông thường ở nhiều khía cạnh. Các phạm tội thông thường có những đặc tính như phản ứng cực độ đối với sự đe doạ, nóng tính và hung hăng, trong khi những kẻ mắc chứng thái nhân cách có mức phản ứng rất thấp đối với sự đe doạ, lạnh lùng và sự hung hãn của họ là có suy tính và được lên kế hoạch,” Nigel Blackwood, đồng tác giả của nghiên cứu trên từ đại học King’s College London cho biết trong cuộc phỏng vấn. “Bằng chứng dần được củng cố cho thấy rằng cả 2 loại tội phạm trên đều có sự phát triển não bộ bất thường, nhưng khác nhau rõ rệt, từ khi còn bé.”

Trong nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành chụp ảnh MRI chức năng đối với 32 tội phạm bạo lực ở Anh, những kẻ đã bị bắt giam vì những tội như cưỡng hiếp, gây thương tật nghiêm trọng cho người khác và giết người. Trong số đó, 12 người được xếp vào dạng thái nhân cách, và 20 người còn lại là tội phạm thông thường. Nhóm nghiên cứu cũng so sánh ảnh quét não bộ của những kẻ phạm tội (cả 2 loại) với những người không phạm tội khỏe mạnh.

Bên trong máy MRI, các nhà nghiên cứu đã yêu cầu những người tham gia chơi trò tìm ảnh cặp – đôi khi họ được thưởng điểm cho việc tìm đúng cặp, nhưng đôi khi trò chơi sẽ thay đổi và họ sẽ bị phạt bằng cách trừ điểm nếu tìm đúng.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thấy rằng những kẻ phạm tội, bất kể là thái nhân cách hay không, đều kém hơn trong việc học hỏi từ các tín hiệu của sự trừng phạt, và đưa ra quyết định tồi tệ hơn, mặc dù tốn nhiều thời gian suy xét các lựa chọn hơn những người không phạm tội.

Nhưng khi các nhà nghiên cứu theo dõi những gì diễn ra trong não của những kẻ phạm tội trong thí nghiệm, họ thấy rằng có điều gì đó đặc biệt kỳ lạ xảy ra trong não của những kẻ thái nhân cách.

Khi trò chơi ngừng thưởng điểm cho việc tìm đúng cặp hình và bắt đầu phạt điểm cho việc đó, cơ chế não bộ có liên quan đến việc học tập từ sự trừng phạt ở những kẻ thái nhân cách có những bất thường “trong cả chất xám lẫn một số đường dẫn chất trắng,” Hodgins cho biết. Chất xám có liên hệ với việc xử lý thông tin và nhận thức, trong khi chất trắng điều khiển dòng thông tin giữa các vùng khác nhau của não.

Ngược lại, những kẻ phạm tội không phải thái nhân cách có hoạt động tương tự như người không phạm tội ở những vùng nói trên. Kết quả này đã được công bố trên tạp chí khoa học Lancet Psychiatry.



Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Những kẻ thái nhân cách ở Nuremburg

Các bị cáo tại Tòa án Quân sự Quốc tế Nuremburg
Các bị cáo tại Tòa án Quân sự Quốc tế Nuremburg

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu hiệu thời đại

Nếu, như nhiều người ngày nay vẫn nói, những kẻ thái nhân cách đang điều khiển chính phủ của chúng ta, tại sao chúng ta không biết về điều đó? Tại sao nó không phải là kiến thức phổ biến, được thảo luận trong gia đình và lớp học trên khắp đất nước? Tại sao các trường học không có khóa học dành cho chủ đề ấy? Nói một cách ngắn gọn, tại sao một ý tưởng đơn giản, nhưng rất mang tính cách mạng lại có vẻ bí mật như vậy? Câu trả lời thực ra nằm trong câu hỏi: nó mang tính cách mạng, nhưng không phải theo cách bạn nghĩ! Bạn thấy đấy, hầu hết các cuộc cách mạng đều bị gây ra, ảnh hưởng hay điều khiển bởi những kẻ thái nhân cách, và khá thường xuyên, điều này được thực hiện bởi cái gọi là “sự lạm dụng tâm thần học.”

Những hành động và phản ứng của người bình thường, những ý tưởng và tiêu chuẩn đạo đức của họ thường được xem là không bình thường trong mắt của những cá nhân không bình thường. Và nếu một kẻ thái nhân cách coi hắn ta là bình thường, điều này dĩ nhiên là dễ dàng hơn nếu hắn ở vị trí nắm quyền, khi đó hắn sẽ coi một người bình thường khác biệt với tiêu chuẩn “bình thường” của hắn là không bình thường.

Điều đó giải thích tại sao, khi những kẻ thái nhân cách trèo lên nắm quyền, như chúng vẫn có xu hướng làm vậy một cách tự nhiên, hệ thống xã hội của chúng - bao gồm cả giáo dục và y học / tâm thần học - luôn có xu hướng coi bất cứ người bất đồng chính kiến - hay có xu hướng bất đồng chính kiến - nào là “tâm thần không bình thường”. Như Lobaczewski viết, “Trong mắt kẻ thái nhân cách, người bình thường chỉ là một kẻ ngây thơ đi tin vào những lí thuyết không hiểu nổi; nếu gọi là “điên rồ” cũng không xa mấy.”

Do đó, những chính quyền như vậy thường kiểm soát môn tâm lý học và tâm thần học thông qua ngân sách và sự có mặt của các “tay trong” thấm nhuần ý thức hệ tư tưởng trong hệ thống nghiên cứu giáo dục. Đồng thời, những phản ứng tự nhiên vô thức của người bình thường đối với môi trường bệnh hoạn xung quanh họ bắt đầu bị định nghĩa là bệnh tật và các “liệu pháp tâm thần”, bao gồm cả nhiều loại thuốc, được quảng bá để buộc những người bình thường sống trong thế giới bệnh hoạn và nghĩ nó là bình thường.

Sự thật về chứng thái nhân cách phải bị gièm pha và che đậy để ngăn nó khỏi gây nguy hiểm cho chính hệ thống chính quyền, và điều này thường xuyên được thực hành bởi những quan chức bệnh hoạn về tâm lý. Bất cứ ai hiểu biết quá nhiều về chứng thái nhân cách đều có thể bị buộc tội với bất cứ thứ tội nào họ có thể bịa ra, bao gồm cả tâm lý không bình thường. Những người ấy trở thành “điên rồ”, “hoang tưởng”, “tâm thần không ổn định” và “nguy hiểm”.

Sự khác biệt về tâm lý là gốc rễ của sự khác biệt giữa những kẻ thái nhân cách cầm quyền và quần chúng, những người bị chúng đàn áp và những người cuối cùng luôn luôn nổi dậy chống lại chúng. Áp lực của cuộc sống trong một thế giới bệnh hoạn chỉ có thể được chịu đựng bấy lâu thôi và cuối cùng, những trò vui chơi giải trí, thuốc men, ma túy đều không còn đủ để làm dịu họ. Cùng lúc đó, những kẻ thái nhân cách khác - chưa trèo được lên đến đỉnh - dựa vào cảm xúc bạo lực của đám quần chúng bị áp bức, thao túng, điều khiển và cưỡi làn sóng bất mãn lên vị trí quyền lực mới, đồng thời đè bẹp các đối thủ của chúng trong quá trình đó. Đối với những kẻ thái nhân cách, sẽ luôn luôn là có ích khi giết hại được một mớ người bình thường, gây chấn thương tinh thần cho những người còn lại, và khiến tất cả mọi người nghĩ rằng giờ họ đã nổi dậy chống lại kẻ áp bức, mọi chuyện về sau sẽ đều tốt đẹp cả!

Vậy, bạn thấy đấy, ý tưởng đó mang tính cách mạng là vì nếu có khi nào nó được biết rộng rãi rằng vấn đề chỉ là ở chỗ những kẻ bệnh hoạn tâm lý chống lại người bình thường chứ không phải những ý thức hệ khác nhau mà các tư tưởng bệnh hoạn tâm lý trốn trong đó, những kẻ thái nhân cách sẽ trở nên bất lực. Không còn khả năng dồn đẩy dân chúng vào các cuộc chiến tranh chống lại kẻ thù được phóng đại (và thường là bịa đặt), mạng lưới hỗ trợ của kẻ thái nhân cách sẽ sụp đổ và hoàng đế sẽ thực sự trần truồng trên đường phố cho tất cả mọi người thấy.



Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Sự thật đằng sau cuộc chiến tranh chống khủng bố

Trẻ em sợ hãi
Trẻ em khiếp sợ - người lớn khiếp sợ. Mồi ngon cho những kẻ thái nhân cách.

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu hiệu thời đại

Quan hệ giữa người với người chứa đầy sự sợ hãi. Rất thường xuyên, quá trình này bắt đầu từ mối quan hệ đầu tiên với cha mẹ chúng ta. Quá vị kỷ để nhận ra những gì đứa trẻ thực sự cần ở mình, nhiều bậc cha mẹ phản bội sự yếu ớt và phụ thuộc của chính đứa con họ - nhu cầu cần được sự thoải mái, an ninh, tin tưởng và sự chấp nhận đầy thương yêu của những người gần gũi nhất với nó. Sau khi bỏ lỡ các giai đoạn phát triển quan trọng này, đứa trẻ, bây giờ đã trở thành cha (hoặc mẹ), có thể lại cảm thấy bị đe dọa bởi nhu cầu tình cảm của đứa con mình và trở nên phụ thuộc vào con cái và vợ mình để nhận được những gì anh ta chưa bao giờ được nhận. Chu kỳ ác nghiệt này cứ tiếp tục, và các đứa con của anh ta lại học cách kiềm chế nhu cầu, chối bỏ cảm xúc và sống như những cái gương trống rỗng phản xạ lại nhu cầu tình cảm của cha chúng. Khi một đứa trẻ phải đáp ứng nhu cầu tình cảm của cha mẹ nó chứ không phải ngược lại, quan hệ cha mẹ - con cái bị đảo ngược. Stephanie Donaldson-Pressman và Robert Pressman gọi đây là “cơ chế gia đình vị kỷ”, và các vấn đề nó gây ra có liên quan trực tiếp đến những vấn đề địa chính trị to lớn mà thế giới đang đối mặt với.

Những đứa trẻ như vậy, cũng như cha mẹ chúng, tìm kiếm một nguồn an ủi, một cảm giác an tâm, nhưng không biết phải tìm ở chỗ nào và phải tìm cái gì, họ thường tìm ở những chỗ sai: con cái họ, người yêu của họ, công việc của họ, hay một số lý tưởng tôn giáo hay chính trị. Mặc dù họ chối bỏ nó nhưng họ bị thúc đẩy bởi chính nỗi sợ mà họ trải qua khi còn bé - sợ phải ở một mình, bị lạc lõng, không được đảm bảo, không được yêu thương, bị bối rối, bị bỏ rơi. Họ tìm sự trú ẩn khỏi nỗi đau ở những cánh tay vỗ về ôm ấp, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thế nhưng, theo một cách nào đó, các thứ đó vẫn không cảm thấy trọn vẹn, như sự “an toàn” của một con tàu đang chìm hay sự “vững chãi” của một tòa lâu đài xây trên cát. Không muốn buông bỏ để lại phải đối mặt với nỗi đau ấy, họ củng cố sự phòng vệ, để mang lại cho tinh thần rời rạc của họ một cảm giác an toàn. Nhưng sự che đậy như vậy được xây dựng trên và phụ thuộc vào sự dối trá hay những thứ mà họ chỉ thấy lờ mờ qua tấm kính của cảm xúc bị chối bỏ và bóp méo. Chúng ta có thể phủ nhận chúng ta đang có mối quan hệ với một kẻ thái nhân cách, một kẻ mà, bất chấp sự lạm dụng và tra tấn về mặt tinh thần mà hắn áp đặt lên chúng ta, cho chúng ta một cảm giác an tâm và ổn định trong cuộc sống. Hoặc chúng ta có thể chối bỏ sự phản bội của chúng ta đối với nhu cầu tình cảm của những người chúng ta yêu thương: đứa con mà chúng ta mắng mỏ và làm biến dạng theo những lý tưởng méo mó của chúng ta hay người yêu mà chúng ta đòi hỏi phải là một hình mẫu nào đó mà họ không phải.

Tôi thấy cực kỳ thú vị làm sao các động thái tinh thần trong một con người lại phản ánh những ảo tưởng diễn ra với số đông tốt đến vậy. Cũng như việc chúng ta tập trung sức mạnh tinh thần để cố bám lấy sự cân bằng mà chúng ta đang sợ mất đến tuyệt vọng, chúng ta tập trung quân đội để bảo vệ chúng ta khỏi kẻ thù không tồn tại, che đậy đi những vấn đề bên trong nước còn lớn hơn nhiều những vấn đề ở “ngoài kia”. Làm thế nào nó lại thành như vậy? Cho đến giờ, trong loạt bài này, tôi đã mô tả kẻ thái nhân cách - những cá nhân không có lương tâm, không có khả năng hối hận, và thèm khát quyền lực - và sự thâm nhập của chúng vào doanh nghiệp và chính trị - hai trung tâm quyền lực trong thế giới hiện đại.

Thao túng cảm xúc của công chúng, đặc biệt là sự sợ hãi, là cách hoạt động của chúng. Người ta thường nói rằng các chính trị gia lợi dụng sự sợ hãi, nhưng điều mà câu nói hiển nhiên này không mang lại là sự hiểu biết chính xác cái gì thúc đẩy chúng làm vậy, tại sao chúng lại làm giỏi như vậy và mức độ mà chúng sẽ thực hiện. Kẻ thái nhân cách rất hiểu hành vi con người, thường là tốt hơn cả chúng ta hiểu chính bản thân mình. Trong bài viết trước, tôi đã trích một kẻ thái nhân cách được chẩn đoán, Sam Vaknin, mô tả cách hắn sử dụng sự lăng mạ và bạo lực tinh thần để đánh quỵ các nạn nhân của hắn. Đấy chỉ là một ví dụ về kiến thức tâm lý đặc biệt mà kẻ thái nhân cách sở hữu, trau dồi sau cả một đời quan sát và tương tác với “bọn kia”, những người bình thường mà các phản ứng tình cảm của họ trông thật xa lạ, hài hước và nực cười đối với chúng. Khi kiến thức đặc biệt này được đưa lên tầm cỡ toàn cầu, bạn sẽ có địa chính trị cùng tất cả các chiến dịch tuyên truyền và những lời dối trá đi kèm với nó.



Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Kẻ thái nhân cách chính trị

Benjamin Netanyahu, kẻ thái nhân cách chính trị
Benjamin Netanyahu, kẻ thái nhân cách chính trị

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu hiệu thời đại

Trước khi nghiên cứu về kẻ thái nhân cách doanh nghiệp, Paul Babiak và các đồng nghiệp đặt ra nhiều câu hỏi cần trả lời. Những câu hỏi đó đều có thể áp dụng tương đương cho kẻ thái nhân cách chính trị và có thể được viết lại như sau:

  • Làm thế nào kẻ thái nhân cách có thể vượt qua các ứng cử viên khác và đạt được thành công trong chính trị?

  • Tại sao kẻ thái nhân cách muốn làm chính trị?

  • Kẻ thái nhân cách có thể hoạt động thành công trong môi trường như vậy trong bao lâu?

Jim Kouri, người làm trong Đội Chống Ma túy Quốc gia, đã huấn luyện cảnh sát và nhân viên an ninh trên khắp nước Mỹ, và hiện đang là phó chủ tịch thứ năm của Hiệp hội Cảnh sát trưởng Quốc gia, trả lời câu hỏi thứ nhất trong một bài xã luận trên examiner.com:

Rất đơn giản, những kẻ giết người hàng loạt và nhiều chính trị gia chuyên nghiệp bắt chước những gì họ tin là phản ứng thích hợp cho các tình huống mà họ đang đối mặt với như buồn bã, đồng cảm, thông cảm và những phản ứng khác của con người với kích thích từ bên ngoài... Nếu kẻ tội phạm là thái nhân cách, chúng có thể tấn công, hãm hiếp và giết người mà không quan tâm đến hậu quả về mặt pháp lý, đạo đức hay xã hội. Điều này cho phép chúng làm những gì chúng muốn, bất cứ lúc nào chúng muốn. Trớ trêu thay, những đặc điểm này cũng tồn tại ở những cá nhân bị thu hút tới các vị trí quyền lực cao trong xã hội, bao gồm cả các chính trị gia.

Chính trị là một thế giới tàn nhẫn. Chính trị gia không những phải tương đối mặt dày để đối phó với các cuộc tấn công vào nhân cách của họ, họ còn phải có khả năng trả đòn. Những kẻ thái nhân cách nói dối một cách dễ dàng. Chúng không có chút bận tâm gì về đạo đức khi cần bôi nhọ người khác, hứa suông, tự quảng cáo một cách vô liêm sỉ, hay sử dụng bất cứ thủ đoạn tàn nhẫn nào khác để đạt được mục đích. Những phẩm chất này mang lại cho chúng lợi thế hơn hẳn các đối thủ trung thực (và thường là ngây thơ) hơn.

Chính trị không khác mấy so với những trò lừa đảo khác. Ví dụ trong một vụ lừa đảo, kẻ lừa đảo thường nhắm đến các thành viên của một nhóm xác định, có thể là tôn giáo, chủng tộc hay tuổi tác. Bất kể có là thành viên của nhóm ấy không, hắn vẫn làm bộ như đại diện cho cả nhóm.

Tương tự, kẻ thái nhân cách chính trị cũng làm bộ đại diện cho một đảng phái nào đó, đặc biệt là trong các chính phủ dân chủ. Việc sử dụng mặt nạ đảng phái là phổ biến đến mức có thể nói đó là cách hoạt động chính của chúng.

Nhưng từ đầu tại sao kẻ thái nhân cách lại muốn đi vào con đường chính trị? Đơn giản chỉ cần đặt câu hỏi, “Ai là cá nhân quyền lực nhất trên thế giới?”, và nhiều người sẽ trả lời: “Tổng thống”. Kẻ thái nhân cách tìm kiếm những vị trí có quyền lực và ảnh hưởng lớn, và chính trị mang lại điều đó cộng với sự nổi tiếng, uy tín và nhiều bổng lộc khác. Nó cho phép chúng trèo lên những vị trí với quyền lực tối thượng đối với quân đội, nền kinh tế và cả dân tộc. Trong một thế giới nơi mà kẻ thái nhân cách bị xem là kinh tởm về mặt đạo đức và thường chỉ phù hợp trong giới tội phạm, chính trị cung cấp cơ hội cho chúng biến đổi thế giới để tạo ra một thế giới mới, nơi mà chúng được tự do khỏi những quy tắc đạo đức và pháp lý vô lý (đối với chúng) của xã hội.



Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Kẻ thái nhân cách: Những con rắn độc mặc complê

Rắn độc mặc complê

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net
Dịch bởi Dấu hiệu thời đại

Kẻ thái nhân cách tội phạm đã được quan sát và nghiên cứu gần một thế kỷ nay. Thế nhưng ngoại trừ một đoạn đề cập ngắn bởi Cleckley, khái niệm về kẻ thái nhân cách thành công - một kẻ bình thường theo hầu hết các tiêu chuẩn bề ngoài - vẫn nằm trong bóng tối của “âm mưu thông đồng im lặng” ở khắp nơi ấy. Ở những bài tới trong loạt bài viết này, bạn sẽ hiểu tại sao lại có tình trạng như vậy và biết chính xác hậu quả của lỗ hổng nguy hại như vậy trong kiến thức và nhận thức là gì. Cho tới nay, thảo luận chi tiết duy nhất về vấn đề những kẻ thái nhân cách thành công là cuốn sách Rắn độc mặc complê (Snakes in Suits) của Paul Babiak và Robert Hare xuất bản năm 2006. Cuốn sách này là thứ không ai nên bỏ lỡ, và nó có thể cứu mạng bạn, theo nghĩa đen. Những thông tin mà nó chứa đựng có thể áp dụng cho các tương tác ở mọi cấp độ xã hội.

Babiak, một nhà tâm lý học chuyên về lĩnh vực công nghiệp và tổ chức, gặp kẻ thái nhân cách doanh nhân đầu tiên của mình vào năm 1992. Thông qua việc thảo luận chi tiết những kẻ như “Dave” trong môi trường doanh nghiệp, Babiak không chỉ làm rõ các phương pháp mà kẻ thái nhân cách dùng để thâm nhập và trèo lên bậc thang danh vị trong doanh nghiệp, ông còn đập tan các ảo tưởng trước đó về những gì kẻ thái nhân cách có thể hay không thể làm được. Nhiều người trong ngành nghĩ rằng kẻ thái nhân cách không có khả năng thành công trong kinh doanh. Họ nghĩ rằng những hành vi vị kỷ và bắt nạt người khác của kẻ thái nhân cách sẽ làm những người có thể thuê chúng không thích, và sự thao túng và lạm dụng của chúng cuối cùng sẽ làm công ty thất bại. Trên thực tế, những người được gọi là “chuyên gia” đó không thể sai lầm hơn được nữa. Họ dường như đã quên mất khả năng kỳ lạ của kẻ thái nhân cách trong việc trưng ra một hình ảnh cực kỳ bình thường, thậm chí là xuất sắc, cho các nạn nhân của chúng. Và chúng ta là vậy đối với chúng: nạn nhân, mục tiêu.

Ngược lại với niềm tin phổ biến và giả định ngạo mạn ấy, Babiak thấy rằng kẻ thái nhân cách dễ dàng được chấp nhận vào hàng ngũ lãnh đạo của các công ty lớn, và thậm chí còn có thành công trong sự nghiệp.1 Tính vị kỷ cực đoan của chúng thường bị nhầm lẫn thành “đức tính lãnh đạo tích cực”. Thế giới đạo đức tối tăm và sự hỗn loạn nội bộ thường thấy trong các vụ sát nhập, mua lại và tiếp quản công ty có vẻ rất hợp với những loại như chúng. Chúng không chỉ làm việc tốt dưới áp lực - do chúng không có khả năng cảm nhận sự sợ hãi hay căng thẳng - mà những lợi nhuận tiềm năng là quá lớn để từ chối, cả đối với kẻ thái nhân cách và công ty. Như Babiak viết, “sự thiếu kiến thức cụ thể ở các doanh nhân về những thủ đoạn thao túng và lừa gạt của kẻ thái nhân cách là chìa khóa dẫn đến sự thành công của kẻ lừa đảo doanh nghiệp.”2 Trớ trêu thay, chính những tính cách mà các tập đoàn và tổ chức hùng mạnh tìm kiếm lại thường là những thứ mang lại sự sụp đổ không tránh khỏi của họ (chứng kiến sự sụp đổ của Bernie Madoff, Enron và Đức Quốc xã). Và đó là những tính cách mà chúng ta đã quen xem là lý tưởng. Ví dụ, thông qua “gọng kính màu hồng” của những người không hiểu biết, lừa gạt và thao túng trở thành “mang tính thuyết phục” và “có ảnh hưởng lớn”; hành vi lạnh lùng và không ăn năn, hối lỗi trở thành “thiên về hành động” và “có khả năng đưa ra quyết định khó khăn”; không biết sợ và bốc đồng trở thành “dũng cảm” và “đầy nhiệt huyết”; không có cảm xúc trở thành “mạnh mẽ” và “biết điều khiển cảm xúc”.3



Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Mặt nạ của kẻ thái nhân cách

Madoff, kẻ thái nhân cách Phố Wall
Madoff, kẻ thái nhân cách Phố Wall

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net

Một kẻ thái nhân cách Phố Wall?

Năm 1960, Bernie Madoff thành lập công ty Phố Wall của hắn, Công ty Đầu tư Chứng khoán Bernard L. Madoff. Là chủ tịch hội đồng quản trị cho đến khi bị bắt vào tháng 12/2008, Madoff đã chứng kiến công ty (và bản thân hắn ta) đạt tiếng tăm lừng lẫy trên Phố Wall với thành tích phát triển công nghệ mà sau này trở thành NASDAQ, sàn giao dịch chứng khoán điện tử đầu tiên và lớn nhất ở Mỹ. Là một triệu phú với tài sản hơn 800 triệu đô la chung giữa hắn và vợ, Ruth Alpern, Madoff nổi danh là một người cầm đầu trong lĩnh vực tài chính và nhà từ thiện hào phóng. Hắn toát ra hòa quang của sự giàu có, tự tin và quen biết rộng, và nhiều người tin tưởng hắn như một trụ cột của cộng đồng. Nghe có vẻ như một con người tuyệt vời phải không?

Hình ảnh nhà từ thiện của hắn được hỗ trợ bởi việc hắn làm cho nhiều tổ chức phi lợi nhuận như Quốc hội Do thái Mỹ (American Jewish Congress) và Đại học Yeshiva ở New York, những ban chấp hành và hội đồng quản trị mà hắn là thành viên, cùng hàng triệu đô la hắn hiến tặng cho mục đích giáo dục, chính trị, văn hóa và y tế. Như trang web công ty hắn khi đó ghi rõ (bây giờ đã bị xóa bỏ): “Khách hàng biết rằng mong muốn cá nhân của Bernard Madoff là duy trì lịch sử không một tỳ vết của phong cách làm việc ngay thẳng và tiêu chuẩn đạo đức cao, điều luôn luôn gắn liền với công ty.” Thật buồn cười khi mọi việc thay đổi với một thay đổi nhỏ trong cách nhìn và nó chỉ trở nên rõ ràng khi nhìn lại. Mãi cho đến tháng 12/2008, công chúng mới biết rằng “mong muốn cá nhân” này hoàn toàn chẳng liên quan gì đến tiêu chuẩn đạo đức cao và cái hình ảnh đó không còn bị nhầm lẫn với thực tế nữa.

Trong cuộc thảo luận với Joanne Lipman, tổng biên tập tạp chí Condé Nast Portfolio, Elie Wiesel, người sống sót từ vụ Holocaust, từng đoạt giải Nobel và là nạn nhân của Madoff, đã nói: “Tôi nhớ hắn tạo ra một huyền thoại xung quanh hắn... rằng mọi thứ đều rất đặc biệt, có một không hai, rằng nó phải được giữ bí mật. Nó như một thứ thần thoại huyền bí mà không ai có thể hiểu được... Hắn tạo ra ấn tượng rằng có lẽ chỉ khoảng 100 người được là khách hàng của hắn. Bây giờ chúng ta biết rằng hàng ngàn người đã bị lừa bởi hắn.”1

Trong cái được mô tả là vụ gian lận đầu tư lớn nhất từng được thực hiện bởi một cá nhân, Madoff lừa đảo hàng ngàn nhà đầu tư số tiền gần 65 tỷ đô la trong một kế hoạch Ponzi tinh xảo. Hắn thanh toán lợi nhuận cho các nhà đầu tư từ số tiền trả bởi những nhà đầu tư mới khác chứ không phải từ lợi nhuận thực tế. Bằng cách di chuyển tiền như vậy, Madoff tạo ra một ảo ảnh về lợi nhuận sánh ngang với hình ảnh nhân vật đạo đức tốt của hắn. Ảo ảnh của tỷ lệ lợi nhuận cao và đều đặn đã nhử được hàng ngàn người vào chương trình đầu tư tốt đến mức không tưởng, cung cấp bởi một con người tốt đến mức không tưởng. Theo tường thuật bởi các phương tiện truyền thông, Madoff miêu tả quỹ đầu tư ấy là một “sự dối trá to lớn” với các con trai hắn, và họ nhanh chóng thông báo với nhà chức trách. Madoff bị bắt ngày hôm sau và tài sản của hắn bị niêm phong (cũng như tài sản của vợ và các con hắn sau này). Kết cục là Madoff đã thành công trong việc hủy hoại cuộc sống của hàng ngàn người, đẩy một số nạn nhân đến con đường tự sát. Cuối cùng hắn chấp nhận đã phạm 11 tội trong đó có gian lận, rửa tiền, khai man. Mặc dù Madoff điều hành công ty của hắn với bàn tay sắt và tuyên bố chỉ có mình hắn chịu trách nhiệm về việc lừa đảo khách hàng, các nhà điều tra vẫn chưa hài lòng với lời giải thích làm sao một người duy nhất có thể che giấu sự gian lận trên quy mô lớn đến như vậy và trong thời gian dài như vậy. Quá trình điều tra sau đó đã đặt sáu cộng sự cũ của Madoff vào vòng điều tra hình sự,2 và nhiều vụ kiện khác đang diễn ra chống lại Ruth Madoff và các con trai bà ta.3



Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Lobaczewski và nguồn gốc môn Tà Ác Học Chính Trị

Tác giả: Harrison Koehli
Nguồn: Sott.net

Bắt đầu ngay sau Thế Chiến II và tiếp tục trong những thập kỷ sau khi chế độ độc tài Xô viết được áp đặt lên các nước Đông Âu, một nhóm các nhà khoa học - chủ yếu là người Ba Lan, Cộng hòa Séc và Hungary - đã bí mật hợp tác trong một nghiên cứu khoa học về bản chất của chế độ độc tài. Bị các cơ quan an ninh quốc gia ngăn chặn không được tiếp xúc với phương Tây, công trình nghiên cứu của họ bị giữ kín trong bóng tối, ngay cả khi những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ như Hervey Cleckley và Gustave Gilbert đang bỏ công sức tìm hiểu về cùng một vấn đề.1 Thành viên sống sót cuối cùng của nhóm này, một nhà tâm lý học và chuyên gia về thái nhân cách người Ba Lan tên là Andrew Lobaczewski (1921 – 2007), cuối cùng đặt tên môn khoa học mới của họ - tổng hợp các nghiên cứu về tâm lý, tâm thần, xã hội học, lịch sử - là “tà ác học” (ponerology), một thuật ngữ ông vay mượn từ các linh mục của Tu viện Benedictine tại làng Ba Lan lịch sử Tyniec. Xuất phát từ từ poneros trong kinh thánh Tân Ước tiếng Hy Lạp, từ này gợi đến cái ác bẩm sinh có ảnh hưởng làm hư hỏng mọi thứ xung quanh, một mô tả rất phù hợp cho chứng thái nhân cách và những ảnh hưởng xã hội của nó.

Những gì chúng ta biết về nghiên cứu này đến từ một số rất ít nguồn. Sợi dây liên lạc duy nhất của Lobaczewski với các nhà nghiên cứu khác là thông qua Stefan Szuman (1889 – 1972), một giáo sư đã nghỉ hưu, người có nhiệm vụ chuyển những tóm tắt kết quả nghiên cứu giữa các thành viên ẩn danh trong nhóm. Hậu quả của việc bị phát hiện tiến hành loại nghiên cứu bị cấm này là rất nghiêm trọng. Các nhà khoa học có thể bị bắt giữ, tra tấn, thậm chí là giết hại. Do vậy việc giữ bí mật nghiêm ngặt trong nhóm nhỏ của họ là tuyệt đối cần thiết. Họ giữ gìn cho bản thân và công trình nghiên cứu bằng cách chia sẻ kết quả nghiên cứu ẩn danh. Bằng cách này, nếu có ai bị bắt và tra tấn, người ấy cũng không thể tiết lộ tên tuổi và nơi ở của những người khác, một mối đe dọa rất thực tế với an toàn cá nhân và khả năng hoàn thành công trình nghiên cứu. Lobaczewski chỉ tiết lộ tên của hai giáo sư người Ba Lan thuộc thế hệ trước, những người tham gia vào giai đoạn đầu của nghiên cứu - Stefan Blachowski (1889 - 1962) và Kazimierz Dabrowski (1902 – 1980).2 Blachowski chết trong hoàn cảnh đáng ngờ và Lobaczewski phỏng đoán ông đã bị ám sát bởi mật vụ nhà nước do tham gia vào công trình nghiên cứu này. Dabrowski xuất cảnh và do không muốn từ bỏ quốc tịch Ba Lan của mình để làm việc ở Hoa Kỳ, ông đã nhận một vị trí tại trường Đại học Alberta, Canada, nơi ông có thể giữ hai quốc tịch. Nếu đọc kỹ những tác phẩm xuất bản bằng tiếng Anh của Dabrowski, chúng ta có thể thấy nền móng lý thuyết của những gì sau này trở thành môn tà ác học.3

Cũng như Lobaczewski, Dabrowski coi chứng thái nhân cách là “trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của cá nhân cũng như tổ chức xã hội”.4 Ông cảnh báo, “Sự thiếu nhận thức về bản chất tâm lý của các cá nhân như vậy [tức là những kẻ thái nhân cách] gây ra những đau khổ, kinh hoàng không kể xiết, từ bạo lực, chiến tranh, diệt chủng cho đến sự hủy hoại của nền văn minh nhân loại... Chừng nào sức mạnh quyến rũ, thôi miên của kẻ thái nhân cách còn chưa bị đối diện với sự thật và những hậu quả về mặt luân lý cũng như thực tiễn của việc đi theo tiếng gọi quyến rũ thôi miên ấy, thì ngay cả những nhóm hay tổ chức xã hội lớn cũng có thể đi vào con đường thoái hóa, suy đồi.5 Trong một lần đề cập có lẽ là đầu tiên đến thái nhân cách trong chính trị, ông nhận xét rằng sự thái quá của tham vọng cùng ham muốn quyền lực, tiền bạc “thể hiện đặc biệt rõ ở thái nhân cách trong chính trị”:6



Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Tổng thống Ukraine và Mỹ, hai kẻ thái nhân cách, bị buộc tội là tội phạm chiến tranh

Hai tên tội phạm chiến tranh: Poroshenko và Obama

Nguồn: Báo Dân Việt

Tổng thống Ukraine Pyotr Poroshenko, đồng nhiệm Mỹ Barack Obama cùng Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jose Manuel Barroso, Tổng thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen bị "Tòa án Russell" tuyên án phạm tội ác chiến tranh ở Donbas.

Theo Đài tiếng nói nước Nga, những nhân vật kể trên không bị đe dọa bởi viễn cảnh tù giam. "Tòa án Russell" là cơ cấu phi chính thức còn quyết định của tòa này không mang tính bắt buộc thi hành.

Phiên tòa được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1967 theo sáng kiến ​​của các triết gia nổi tiếng Bertrand Russell và Jean-Paul Sartre, để tố cáo trước toàn nhân loại những tội ác chiến tranh dã man mà người Mỹ và các đồng minh của họ đã gây ra ở Việt Nam.

Một trong những nhiệm vụ của "Tòa án Russell" là "dựng lại toàn bộ sự thật khách quan về cuộc chiến tranh, không thiên về tình cảm sợ hãi hay cảm thông”.

Bây giờ tập thể tư pháp gồm bốn thẩm phán đứng đầu là ông Albert Gardin, Chủ tịch ban tổ chức của "Tòa án Russell" ở Venice đồng thời là một trong những thủ lĩnh của phong trào ủng hộ hồi sinh nước Cộng hòa Venice độc lập, đã cố gắng thiết lập sự thật về cuộc chiến tranh ở đông-nam Ukraine.



Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Rắn độc mặc com-lê - Chương 2: Những người ấy là loại gì?

Nguồn: Snakes in Suits: When Psychopaths Go to Work
Tác giả: Paul Babiak và Robert Hare

Tiểu thuyết và phim ảnh thường mô tả kẻ thái nhân cách theo những khuôn mẫu cực đoan. Chúng xuất hiện là những kẻ giết người hàng loạt, hiếp dâm và lừa đảo máu lạnh. Không may là điều này cũng có phần đúng, nhưng bức tranh trong hiện thực phức tạp hơn một chút.


Nhiều năm nghiên cứu tội phạm trong tù đã chỉ rõ mức độ tội ác và bạo lực của những kẻ thái nhân cách. Giờ đây chúng ta biết những kẻ thái nhân cách cả nam và nữ thực hiện nhiều tội ác hơn và đa dạng hơn những tội phạm bình thường. Những tội ác của chúng thường mang tính bạo lực hơn những tội phạm bình thường, và bản chất hành vi của chúng mang tính hung hăng, đe dọa, chế ngự và tàn bạo hơn. Hơn nữa, sự hung hăng và bạo lực của chúng có bản chất như thú săn mồi – lạnh lùng và tuyệt đối không có những chấn động tình cảm mãnh liệt thường đi kèm hành vi bạo lực của hầu hết người bình thường khác. Kiểu hung hăng và bạo lực của chúng mang tính công cụ, là một cách để chúng đạt mục đích, và rất hiếm khi đi kèm chút bận tâm nào về những đau đớn, khổ sở ở các nạn nhân. Ngược lại, hầu hết bạo lực ở các tội phạm khác mang tính phản xạ bột phát – một phản ứng nhất thời đối với sự đe dọa hay tình huống gây ra cảm xúc mãnh liệt. Loại bạo lực này thường được nối tiếp bởi cảm xúc hối hận và mặc cảm tội lỗi về những gì đã gây ra cho người khác.

Có lẽ điều nguy hiểm nhất từ khía cạnh an toàn cộng đồng là những kẻ tội phạm thái nhân cách tái phạm với tỷ lệ cao hơn nhiều và sớm hơn nhiều so với các tội phạm khác. Tỷ lệ tái phạm là phần trăm số tội phạm phạm thêm một tội ác nữa sau khi được trở về với cộng đồng. Những kẻ thái nhân cách chiếm khoảng 15% số tội phạm trong tù. Nhiều người trong số 85% còn lại có thể coi là thái nhân cách xã hội hay bị rối loạn nhân cách chống xã hội, một rối loạn tương tự thường bị nhầm lẫn với chứng thái nhân cách (xem dưới đây). Mặc dù tỷ lệ thái nhân cách trong dân số nói chung là khá nhỏ – chỉ khoảng 1% - những tác hại về xã hội, kinh tế, thể chất và tinh thần gây ra bởi những cá nhân với chứng rối loạn này vượt xa con số đó. Chúng gây ra ít nhất một nửa những tội ác bạo lực nghiêm trọng ở Bắc Mỹ. Tuy vậy, như chúng ta sẽ thấy, không phải tất cả những kẻ thái nhân cách đều là tội phạm, và không phải tất cả tội phạm đều là thái nhân cách.



Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

Rắn độc mặc comlê - Chương 1: Bộ comlê đẹp quá. Rắn độc có mặc comlê đẹp vậy không?

Rắn độc mặc comlê

Tác giả: Paul Babiak và Robert Hare
Nguồn: Snakes in Suits: When Psychopaths Go to Work

Fred dẫn cả nhóm vào quán rượu O'Hare sau giờ làm việc tối hôm đó. Anh đặt trả hóa đơn chung rồi bắt đầu gọi đồ uống cho tất cả mọi người trong công ty. Khi nhiều người nữa đến nhập hội, những tiếng reo mừng và chúc tụng bắt đầu nổi lên khi mọi người ăn mừng sự may mắn của họ. Fred nâng cốc lên. Sự im lặng quay trở lại khi mọi người đều nâng cốc hướng về phía anh. “Chó Điên đã chết. Chó Điên sống mãi!”, anh hét lên cùng với niềm vui sướng của tất cả mọi người ở đó.

“Đúng, đúng!” họ vỗ tay hoan hô và cạn cốc, rồi những tràng cười và pháo tay tràn ngập cả quán. Không ai cảm thấy buồn tối hôm đó, một thay đổi lớn so với hầu hết các tối thứ sáu tại quán O'Hare trong suốt hai năm qua.

Mọi thứ ở công ty đều tốt cho đến khi Chó Điên đến. Lương và thưởng đều tuyệt vời, điều kiện làm việc dễ chịu, và cơ hội làm việc cho một trong những công ty lâu đời và được kính trọng nhất trong lĩnh vực này là điều rất có ý nghĩa với nhiều người. Tuy nhiên, như tất cả mọi điều tốt đẹp khác, rồi cũng đến lúc thay đổi. Giám đốc công ty, “Ông già Bailey” như bạn bè ông thường gọi (và hầu hết các nhân viên đều là bạn bè của ông), đã bán công ty dịch vụ tài chính của mình cho một công ty lớn hơn hai năm trước. Mặc dù vậy, như nhiều nhà quản lý thành công khác, ông không muốn thấy mình lặng lẽ chìm vào bóng tối, mà vẫn muốn có một vai trò trong công ty, vì vậy ông đàm phán và nhận một vị trí tư vấn tạm thời trong hội đồng quản trị để hỗ trợ quá trình chuyển đổi.

Hội đồng quản trị hoan nghênh sự giúp đỡ của ông và hoàn toàn thoải mái với việc ông thỉnh thoảng viếng thăm trụ sở công ty cũ (bây giờ là một chi nhánh). Bailey muốn những giá trị cũ mà ông tạo dựng phát triển và lan ra những chi nhánh khác của công ty mới. Nhưng điều đó không thành công. Một công ty lớn có nghĩa là bây giờ có nhiều chi nhánh và địa điểm, và khả năng ảnh hưởng của ông ngày càng giảm dần cùng với mỗi vụ sáp nhập mới. Những chi nhánh khác cũng có những giá trị, những cách làm riêng của họ.

Mặc dù ông đã quyết định không tham gia vào hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, một quyết định làm ông không hài lòng là việc thăng chức cho Gus, “một thằng nhóc nhắng nhít” theo đánh giá của Bailey, vào vị trí Giám đốc điều hành chi nhánh. Bailey coi Gus là một đứa chỉ giỏi xu nịnh, tránh đối đầu, thích đùn đẩy việc khó khăn cho người khác và dễ bị xiêu lòng bởi những lời nịnh nọt. Bailey nghĩ Gus dành quá nhiều thời gian gặp gỡ cấp trên trong công ty và quá ít thời gian điều hành công việc trong chi nhánh của anh ta.

Chẳng bao lâu những bình bia và bát lạc rang được đưa đến các bàn ở phòng trong của quán O'Hare, nơi cả nhóm đang bàn luận các chi tiết trong hồi kết của Chó Điên. Cùng lúc nhân viên từ các phòng ban hòa trộn với nhau, những người chỉ nghe phong phanh tin đồn hỏi thêm thông tin từ người bên cạnh, những người khác thì muốn xác nhận lại các chi tiết họ đã nghe. Thật thú vị khi thu thập những mẩu của câu chuyện và lắp ghép lại thành bức tranh hoàn chỉnh về những gì đã thực sự xảy ra.

Sáu tháng sau khi Gus được bổ nhiệm, mọi thứ bắt đầu rối tung. Lần đầu tiên trong lịch sử lâu đời của nó, chi nhánh của Bailey không đạt được mục tiêu đã định. Kết quả kém đến nỗi các nhà phân tích thị trường bắt đầu đưa ra những nhận xét không mấy dễ chịu, làm ảnh hưởng đến danh tiếng của cả công ty. Tồi tệ hơn nữa, có nguy cơ chi nhánh còn bị phạt một món tiền lớn một cách rất công khai và nhục nhã do không tuân thủ quy định trong một số hợp đồng chính phủ. Điều này chưa đến tai báo chí, nhưng chắc chắn nó sẽ gây chấn động nếu không được giải quyết nhanh chóng. Bailey cảm thấy cần phải cho Gus đi, và đề nghị để mình điều hành chi nhánh cho đến khi tìm thấy ứng cử viên tốt hơn. Hội đồng quản trị công ty không đồng ý. Với mong muốn giúp Gus, họ quyết định đặt ra một vị trí phó giám đốc điều hành dưới quyền anh ta.

Một người thu hút sự chú ý của họ như một ứng cử viên hoàn hảo là Helen. Helen tham gia một trong những chi nhánh được mua lại khác chỉ một năm trước và trở thành ngôi sao sáng trong thời gian ngắn. Bản đánh giá thành tích cá nhân ca ngợi tinh thần, sự siêng năng, khả năng tập trung, nhiệt huyết và những khả năng bẩm sinh khác. Cô đã chứng minh giá trị của mình cho cấp trên, xây dựng nên danh tiếng là một người có khả năng giải quyết mọi việc, hoàn thành tốt các dự án theo đúng tiến độ. Cũng phải thừa nhận rằng có một số thiệt hại xảy ra trong quá trình đó, nhưng điều đó có vẻ không làm các cấp trên của cô quan tâm, và họ đưa cô vào danh sách ứng cử viên cho những vị trí quản lý chủ chốt. Tuy nhiên, bất chấp những đánh giá sáng giá từ cấp trên, chi nhánh của cô vẫn hoạt động kém, trong khi tiếp tục tuyển thêm người, yêu cầu và được chấp thuận ngân sách ngày càng lớn hơn trong hai năm liên tiếp. Bailey tự hỏi làm sao ban quản lý có thể bỏ qua những con số này và đưa một người chỉ quen tiêu tiền phụ trách một chi nhánh đang có vấn đề về tài chính. Nhưng đấy không còn là quyết định của ông nữa rồi.

Helen vượt qua vòng phỏng vấn với ủy ban tìm kiếm một cách xuất sắc. Phong cách năng động, cuốn hút và khả năng chỉnh đốn các vấn đề về tổ chức mà cô tự nhận – những vấn đề mà rõ ràng là chi nhánh của Gus đang có – khiến cô trở thành lựa chọn hiển nhiên cho vị trí đó. Những nhà phân tích bên ngoài công ty cũng sẽ nhìn nhận việc bổ nhiệm một người quyết đoán, năng động và có khả năng như vậy vào một chi nhánh đang thất bại một cách đầy tai tiếng như một cam kết chắc chắn từ phía công ty sẽ đáp ứng các yêu cầu của chính phủ. Phong cách và thái độ của cô đều phù hợp với những gì ban quản trị và các nhà phân tích muốn thấy. Thời gian, hoàn cảnh và vị trí của cô đều có vẻ rất phù hợp.

Lynda, từ bộ phận kế toán, ngồi ở góc phòng nhấp cốc bia. Tiếng trò chuyện khàn khàn của các đồng nghiệp ngồi cùng tạo nên một khung cảnh dễ chịu cho những suy nghĩ riêng tư của cô. “Em phải vui mới phải, Lynda,” Julie, thành viên lâu năm của đội kiểm toán, nói. “Em đã thắng, và [từ tục tĩu bị xóa] đã biến rồi.”

Lynda uống một ngụm bia và mỉm cười bẽn lẽn. Vừa ra trường, cô không bao giờ nghĩ làm việc cho một công ty lớn sẽ như thế này. Vài tháng vừa rồi đã rất khó khăn với cô. Dĩ nhiên là cô có thể xử lý công việc, và còn phổ biến vài kỹ thuật đánh giá bằng máy tính mới được học ở trường đến cho nhóm. Nhưng nỗi đau mà cô đã phải chịu không chịu biến đi.

“Nghe đây, Lyn. Thế giới này gồm đủ loại người, và em không may vớ phải một đứa đểu trong công việc đầu tiên. Nhưng hầu hết mọi người là tốt và muốn làm tốt công việc của mình – em là một trong số họ, và em được bao bọc bởi bạn bè – em đã làm đúng; em là anh hùng của chúng ta.” Ánh mắt cảm thông từ mọi người quanh bàn hướng tới cô, và Julie quàng tay ôm lấy Lynda. Cô mỉm cười.

Lynda không may đã là mục tiêu hành hạ trong bộ phận kế toán. Có thể đó là sự ngây thơ, tuổi trẻ hay xu hướng trung thực của cô, nhưng ngay cả Julie cũng không thể che chắn cho cô hoàn toàn. Julie đã cố gắng bảo vệ cho Lynda khi quá trình kiểm toán của cô đặt ra nhiều dấu hỏi nghiêm trọng về những gì Chó Điên đang làm, nhưng thực lực của Julie không thể lại được với Chó Điên.

Helen thất vọng với quyết định đó. Cô đã nghĩ Gus sẽ bị loại bỏ và cô sẽ nhận được vị trí cao nhất trong chi nhánh. Phó giám đốc nhân sự của chi nhánh giải thích với cô rằng vị trí hiện thời là một vị trí rất nổi bật, có vai trò quyết định trong việc cải thiện hoạt động hàng ngày của chi nhánh. Tất cả mọi người sẽ để ý xem cô có thể giúp Gus xoay chuyển tình thế trong thời gian ngắn không. Cô được cho biết hoàn thành xuất sắc vai trò mới sẽ giúp mang lại những đề bạt nhanh chóng và đáng kể trong tương lai. Thêm vào đó, Helen và Gus được xem như một kết hợp tuyệt vời cho công việc, và mặc dù khá là khác nhau trong cách tiếp cận và phong cách, họ là một đôi rất tốt – cô có thể học từ kinh nghiệm của Gus cũng như Gus học từ cô.

Helen nói cô sẽ nhận công việc mới nếu cô có được sự giúp đỡ cần thiết để thành công, một yêu cầu ai cũng phải thấy là hợp lý. Tổng công ty sẵn sàng làm mọi điều cần thiết và phê duyệt mọi yêu cầu nhằm giải quyết vấn đề đáng xấu hổ trong lịch sử công ty này. Do vậy, hoàn toàn ngược lại với những kiểm soát tài chính chặt chẽ ở những chỗ khác trong công ty, Gus và Helen gần như có bất cứ thứ gì họ yêu cầu. Với những đảm bảo như vậy, và gần như một tấm séc trắng đã ký sẵn, Helen đồng ý nhận công việc.

Chỉ sau hơn sáu tháng, những vấn đề gây phiền phức cho chi nhánh dường như đã biến mất. Tỷ lệ đạt yêu cầu trong thực thi các hợp đồng chính phủ tăng lên đến 95%, những sai sót (về con người, chương trình máy tính và thủ tục) mà lúc trước dẫn đến những vấn đề đó được tìm ra và nhanh chóng khắc phục, và câu hỏi về việc tuân thủ quy định chính phủ đã biến đi một cách lặng lẽ. Một mình Helen nhận được hầu hết sự khen ngợi trong việc cứu chi nhánh. Ngay cả Gus cũng tỏ lời khen cô, đặc biệt là về đạo đức nghề nghiệp, sự siêng năng và cống hiến cho công việc.

Fred đi một vòng đến từng nhóm nhỏ trong phòng. Những lời chúc tụng và cạn cốc phát ra ở mỗi nhóm anh đến. Những mẩu hội thoại sôi nổi cũng được nghe thấy trên nền âm thanh chung. Rick, ở phòng thư tín, xác nhận là cảnh sát bang đã có mặt ở cửa sau để giữ tất cả mọi người ở lại bên trong. “Và có hai tay mặc com-lê đen mang máy tính, giấy tờ và cả giấy vụn trong sọt rác nữa,” anh ta thuật lại. Sheila, ở bộ phận an ninh, xác nhận đã nhận được điện thoại sáng hôm đó, tiếp đến là mệnh lệnh đặt các nhân viên an ninh ở cửa trước. “Vâng, còng tay nữa,” cô trả lời thắc mắc của đám nhân viên tiếp thị.

Không ai ngạc nhiên khi Gus bị thuyên chuyển khỏi vị trí – có lẽ ngoại trừ Gus – sau khi Helen nói với các thành viên hội đồng quản trị về những lỗi lầm của anh ta trong kết quả kinh doanh đáng thất vọng lúc trước. Cô có những ý tưởng thông minh, rất nhiều nhiệt huyết và rất bền bỉ trong việc giành lấy những gì cô muốn. Cô xây dựng nên một câu chuyện nghe rất có lý về khả năng quản lý yếu kém của Gus, đồng thời làm nổi bật vai trò của cô. Helen có cá tính cực kỳ cạnh tranh, rất mạnh mẽ trong giao tiếp với người khác và rất thích là trung tâm của mọi sự chú ý. Việc xoay chuyển tình thế ở chi nhánh đã cho cô bàn đạp cần thiết để vươn tới một sự nghiệp lớn ở công ty. Nói chung, cô đã khiến họ tin rằng cô có tất cả những đức tính cần thiết để lãnh đạo một công ty lớn. Cô là lựa chọn hiển nhiên để thay thế Gus, và đã được thăng cấp lên vị trí giám đốc điều hành chi nhánh của Gus.

Cánh cửa trước của quán O'Hare mở từ từ. Một người đàn ông to lớn đứng ở đó trong bộ áo choàng dài màu đen. Ông liếc nhìn đồng hồ và tiến về phía quầy rượu. O'Hare đứng ở quầy tối hôm đó và gật đầu chào ông. Tháo găng tay đen ra, người đàn ông gọi một cốc rượu cốc-tay gừng. O'Hare gật đầu và đi pha cốc rượu.

Dĩ nhiên không phải ai cũng thích Helen, và một số nhân viên không tin tưởng cô ta. Cô đối xử với cấp dưới với thái độ coi thường và khinh thị, thường chế giễu khả năng làm việc của họ. Ngược lại, với những người mà cô ta thấy hữu ích cho sự nghiệp của mình, cô ta tỏ ra duyên dáng, hấp dẫn và luôn vui vẻ. Cô có biệt tài trưng ra mặt tốt của mình cho những người cô cảm thấy quan trọng, trong khi bôi nhọ và loại trừ bất cứ ai không đồng ý với những quyết định của cô.

Helen trở nên nổi tiếng về tài rót vào tai cấp trên những gì họ muốn nghe. Cô ta chuẩn bị cho những cuộc gặp với ban quản trị như chuẩn bị quay phim ở Hollywood. Cô bắt tất cả cấp dưới phải báo cáo theo những kịch bản đã thỏa thuận trước, và dành tất cả những câu hỏi bất ngờ hoặc khó trả lời cho cô. Theo các đồng nghiệp, Helen là bậc thầy trong nghệ thuật gây ấn tượng, và cô ta đã thành công trong việc điều khiển cấp trên, đe dọa cấp dưới và nắm chặt tất cả những ai quan trọng với cô ta.

Cầm cốc rượu của mình lên, người đàn ông nhìn quanh quán. Ơ đây yên tĩnh ngoại trừ tiếng ồn từ căn phòng phía sau. Vị khách gọi một cốc nữa, đặt thẻ tín dụng của mình lên bàn. O'Hare rót đầy cốc, đặt lên bàn rồi cầm thẻ tín dụng đi trừ tiền.

Sau khi vụ rắc rối với chính phủ đã trở thành dĩ vãng và Gus không còn là vật cản, Helen bắt đầu bộc lộ phong cách quản lý độc đoán của mình. Mỗi buổi họp với nhân viên là một màn diễn đầy kịch tính và các nhân viên thường cảm thấy bầm dập, nhục nhã sau mỗi cuộc gặp mặt với cô ta. Cô ta thường sùng sục đi quanh khu văn phòng mới – mà cô ta vừa thuê chỉ vì cô ta muốn có một căn phòng làm việc rộng hơn cho mình – không chào hỏi ai, tuôn ra mệnh lệnh cộc lốc và nói chung là dọa nạt, xô đẩy mọi nhân viên.

Phong cách này hoàn toàn trái ngược với Bailey, một người mà cửa phòng làm việc luôn mở rộng, một người thường xuyên đi tiếp xúc với nhân viên, lắng nghe ý kiến mới để cải thiện doanh nghiệp. Bailey quý trọng nhân viên của mình và làm họ phải kinh ngạc với khả năng nhớ tên vợ hoặc chồng của họ hay nhớ những thành tích mà con cái họ đạt được. Bailey là một con người của công chúng, một người không chỉ cực kỳ thông minh mà còn rất biết cách kiếm tiền, và ông kiếm rất nhiều tiền. Ông biết rằng thành công của ông – thành công của doanh nghiệp – phụ thuộc vào chất lượng của các nhân viên và ông chia sẻ vinh quang cũng như bổng lộc với mọi người xung quanh.

Trong vài tháng sau đó, Helen tuyển nhóm nhân viên mới của riêng cô ta, thay thế nhiều đối thủ to mồm trong đám nhân viên kỳ cựu ở chi nhánh. Dựa trên cảm tính cá nhân khi tuyển nhân viên, cô ta thường đưa ra những món thưởng lớn để lôi kéo các tài năng trẻ tuổi rời khỏi công việc hiện thời của họ, và rồi nếu cô ta quyết định – chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần – rằng họ không phù hợp với mình, lập tức cho họ nghỉ việc. Cô ta sa thải hầu hết nhóm người mới tuyển một cách cực kỳ nhanh chóng khi cô ta cảm thấy họ không đủ năng lực hay không cần thiết. Không hề có sự quan tâm về những tổn hại mà cô ta đã gây ra với sự nghiệp và cuộc sống gia đình của những người đó, hay những vấn đề pháp lý mà cô ta có thể gây ra cho công ty.

Helen dường như có thể làm bất kỳ điều gì cô ta muốn mà không làm sao, bao gồm cả việc mua sắm những thứ xa xỉ nhất như máy tính, xe hơi, căn hộ riêng hay bất cứ thứ đồ dùng để phô trương quyền lực nào khác. Helen bày ra một chuỗi hội thảo dành riêng cho ban quản lý ở những điểm du lịch nhiệt đới rất tốn kém, với những khách mời nổi tiếng, trong đó cô ta trưng bày những thành tích của chi nhánh mà cô ta nhận tất cả công trạng. Bản báo cáo thành tích của cô ta không hề khớp với sự thiếu gắn kết diễn ra lâu nay trong nội bộ chi nhánh – nhưng bằng cách nào đó, không ai ở ngoài chi nhánh nhận thấy điều này.

Cô ta không muốn và có lẽ không có khả năng thừa nhận rằng những quyết định của cô ta có thể mang đến hậu quả tiêu cực cho doanh nghiệp. Bất cứ ai đặt câu hỏi về hành vi của cô ta đều nhận được những phản ứng dữ dội, ví dụ như khi cô ta sa thải một chuyên viên quản lý mà tổng công ty thuê để giúp cô ta. Cô ta không bao giờ sai mà chỉ có đúng và chỉ quan tâm đến những tin tức tốt đẹp. Nhân viên phẫn nộ với cách cô ta diễu qua diễu lại như một nữ hoàng. Cô ta rất thích phô trương địa vị, quyền lực và những đặc quyền mà cô ta có trong công ty, bao gồm cả một máy bay riêng mà tổng công ty thuê cho cô ta. Cô ta có nhiều kẻ thù, nhưng nhiều nhân viên cũng sợ cô ta.

Người đàn ông ở quán liếc nhìn đồng hồ một lần nữa và nhìn quanh quán như thể tìm kiếm ai đó. “Họ ở trong kia,” O'Hare nói, gật đầu về phía cánh cửa ra phòng sau. “Tôi không nghĩ là họ đang đợi ông, nhưng ông cứ đi thẳng vào cũng được.”

Điều làm các nhân viên thực sự khó chịu là sự vắng mặt ngày càng tăng của Helen, trong khi lúc Gus còn phụ trách thì cô ta gần như sống trong phòng làm việc. Trợ thủ của cô ta, Ned – một gã bạn thân mà cô ta bổ nhiệm vào một vị trí phát triển kinh doanh mới – cũng thường vắng mặt cùng lúc, gây ra những tin đồn không mấy tốt lành. Một tin đồn nghiêm trong hơn là về việc anh ta hoạt động một doanh nghiệp khác nữa bên lề, mặc dù chính sách của công ty cấm điều đó. Sự có mặt của Ned gây ra bực bội trong các nhân viên, nhưng Helen bảo vệ anh ta và không ai dám mâu thuẫn hay đặt câu hỏi về anh ta.

Với cốc rượu trong tay, người đàn ông nhẹ nhàng đẩy cửa vào phòng trong. Không ai nhận thấy ông, ngoại trừ Fred.

“Ned bị tóm trong căng tin đang uống cafe,” Sheila thuật lại. “Khi họ còng tay hắn, hắn ta phản đối um sùm, đòi gọi điện cho luật sự!”

“Thế còn chuyện Chó Điên tìm cách thoát bằng máy bay?” Sam, một người luôn biết về các tin đồn cuối cùng, hỏi.

Nhìn thấy ai vừa bước vào phòng, Fred đặng hắng lớn tiếng để cảnh báo mọi người, nhưng chẳng mấy ai nghe thấy. Anh bắt đầu gõ vào cái cốc trước mặt bằng cái nhẫn của mình để thu hút sự chú ý. Nhiều người bắt đầu nhận thấy sự có mặt của người đàn ông mới vào. Tiếng ồn ào nhỏ dần thành tiếng thì thầm, và tiếng thì thầm tắt hẳn thành im lặng hoàn toàn.

Vụ gian lận bị phát hiện vừa thông minh lại vừa táo tợn. Không ai ngờ được rằng những khách hàng góp phần chủ yếu vào sự xoay chuyển tình thế và sự phát triển của chi nhánh là hoàn toàn hư cấu, và rằng Ned và Chó Điên là một nhóm lừa đảo. Các nhân viên cũng không hề biết rằng một số khách hàng lớn của chi nhánh cũng hoàn toàn do Ned bịa ra để thổi phồng kết quả kinh doanh. Không ai có thể tưởng tượng họ đã làm việc ngay cạnh một đôi lừa đảo.

Người đàn ông nhìn qua các gương mặt trong phòng, mỉm cười với những ai ông vẫn còn nhận ra. Thấy Shirley ở bàn sau, ông tiến về nhóm đó. Hầu hết mọi người ở đó đã đứng lên, nhưng Lynda, ngồi quay lưng ra cửa, vẫn còn chìm sâu trong suy nghĩ. Ông đi đến đâu, đám đông rẽ ra đến đó. Đứng bên cạnh cô, ông hỏi, “Cháu có phải Lynda không?” Giật mình khỏi cơn mơ màng, cô quay lại và thấy người đang đứng bên cô.

Ít có công ty nào trải qua vụ tai tiếng nổi đình nổi đám như hôm đó. Cuối cùng, các nhà chức trách khám phá được rằng Helen, dùng mã truy cập máy tính mà cô ta lấy được từ bộ phận công nghệ thông tin, đã thực hiện những thay đổi rất nhỏ trong tài khoản của nhiều khách hàng, dần dần chuyển một số tiền lớn vào tài khoản ngân hàng nước ngoài của cô ta. Ned, tình cờ có mặt ở văn phòng hôm đó, đã nhìn thấy cảnh sát đến và có đủ thời gian để gọi điện báo cho Helen trước khi lao khỏi phòng về phía lối ra ở căng tin và rơi vào tay cảnh sát. Helen may mắn hơn. Trong khi những chiếc xe không đánh dấu đi dọc phố về phía nhà cô ta, cô ta trốn khỏi cửa sau ngôi biệt thự, chạy qua vườn sau ra phố, nơi cô ta luôn đậu chiếc ô tô thứ hai sẵn sàng cho những vụ khẩn cấp như vậy. Trong khi chiếc máy bay do công ty thuê bị theo dõi, không ai tưởng tượng được rằng cô ta còn thuê một chiếc máy bay tư nhân khác ở sân bay địa phương phía bên kia thị trấn.

“Vâng, thưa ngài,” Lynda rụt rè nói.

“Chú muốn gửi lời cảm ơn của cá nhân chú về tất cả sự giúp đỡ của cháu. Chú thực sự đánh giá cao lòng can đảm và tính trung thực của cháu.”

“Ngài Bailey,” Fred tiến đến sau ông nói, “thật tuyệt khi thấy ngài ở đây. Xin chào mừng ngài đến với buổi gặp mặt nhỏ của chúng tôi.”

“Tôi cũng vui mừng khi gặp lại anh, Fred. Có vẻ như chúng ta đã hết bia rồi,” ông nói đầy hàm ý rồi ngồi xuống ghế bên cạnh Lynda. “Mọi người, bữa tiệc hôm nay là tôi chi,” Ông già Bailey nói. “Fred, anh có thể lấy một cốc nữa cho tôi được không? O'Hare biết tôi uống gì.”

Về tác giả:

Tiến sĩ Paul Babiak là một nhà tâm lý học chuyên về tổ chức doanh nghiệp và là giám đốc của HRBackOffice, một công ty tư vấn trong lĩnh vực phát triển nhân sự cấp cao. Những bài viết của ông đã được đăng trên các tờ New York Times, Washington Post, Harvard Business Review và nhiều tờ báo khác.

Tiến sĩ Robert D. Hare là tác giả cuốn Without Conscience (Không có lương tâm) và là người phát minh Bản Kiểm tra Thái nhân cách (The Pychopathy Checklist), công cụ chẩn đoán chứng thái nhân cách được sử dụng rộng rãi hiện nay. Ông là giáo sư danh dự khoa tâm lý học ở trường Đại học British Columbia, và là giám đốc Darkstone Research Group, một công ty nghiên cứu và tư vấn pháp y. Ông đã dành được rất nhiều giải thưởng cho những nghiên cứu về chứng thái nhân cách.



Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Đại cương về chứng thái nhân cách

Kẻ thái nhân cách

Tác giả: Laura Knight-Jadczyk
Nguồn: CassWiki

Thái nhân cách (psychopathy) là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp psukhe (tâm) và pathos (bệnh tật, đau khổ), và từng được dùng để chỉ bất kì rối loạn tâm thần nào. Vào thời điểm hiện tại, chứng thái nhân cách được mô tả chính xác nhất trong hai công trình có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực này: Without Conscience (Không có Lương tâm) của Robert Hare và The Mask of Sanity (Mặt nạ của sự bình thường) của Hervey M. Cleckley. Một kẻ thái nhân cách đúng chính xác là như vậy: vô lương tâm, và quan trọng hơn cả, điều này được ẩn giấu sau một cái mặt nạ bình thường tốt đến nỗi ngay cả các chuyên gia cũng bị đánh lừa. Một công trình thứ ba gần đây hơn, Snakes in Suits (Rắn độc mặc Com lê) của Robert Hare và Paul Babiak, đã nâng nghiên cứu trong lĩnh vực này lên một tầng cao mới bằng cách nhấn mạnh thực tế là: Nhờ khả năng che giấu bản chất thực sự của chúng, những kẻ thái nhân cách dễ dàng trở thành những con rắn độc mặc com lê nắm quyền kiểm soát thế giới của chúng ta. Nhà tâm lý học từ trường đại học Harvard, Martha Stout, mô tả sự phối hợp chết người này như sau:

Hãy tưởng tượng - nếu bạn có thể - không có lương tâm, không một chút nào, không một cảm giác tội lỗi hay hối hận dù bạn làm bất cứ điều gì, không chút ý thức kiềm chế bắt nguồn từ sự quan tâm đến người khác, dù là người lạ, bạn bè, hay thậm chí thành viên gia đình. Hãy tưởng tượng không phải đấu tranh với sự hổ thẹn, dù chỉ là một lần trong cả đời bạn, dù bạn làm bất cứ hành động ích kỉ, lười biếng, tai hại hay vô đạo đức nào.

Và thử giả bộ bạn không hề biết đến khái niệm về trách nhiệm, ngoại trừ việc nó là một gánh nặng mà những người khác có vẻ chấp nhận mà không hỏi han gì, như những thằng ngu cả tin.

Bây giờ thêm vào sự tưởng tượng kì quặc này khả năng che mắt những người khác rằng cấu trúc tâm lí của bạn khác xa so với họ. Vì mọi người đều cho rằng lương tâm là thứ tồn tại trong tất cả con người, việc che giấu sự thật rằng bạn không có lương tâm gần như không mất chút công sức nào. [1]

Chứng thái nhân cách được định nghĩa trong tâm thần học là một trạng thái đặc trưng bởi sự thiếu hụt khả năng đồng cảm hoặc lương tâm, tính khoa trương, ngạo mạn, nhẫn tâm, nông cạn, kém khả năng kiềm chế và hay sử dụng thủ đoạn để giành quyền kiểm soát của cải, tài nguyên hoặc con người. Kẻ thái nhân cách cũng được biết đến là dễ nóng giận, không cảm thấy hối lỗi hay lo lắng và dễ phạm pháp hay gây tội ác. [2]

Mặc dùng được sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ tâm thần học, thái nhân cách không có đề mục chính xác tương ứng [3] trong Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Các Rối loạn Tâm thần – Phiên bản IV – Có Sửa đổi (DSM-IV-TR), trong đó đề mục gần nhất là rối loạn nhân cách chống xã hội (anti-social personality disorder), hay trong Bảng Phân loại Bệnh tật Quốc tế - Phiên bản 10 (ICD-10), trong đó đề mục gần nhất là rối loạn nhân cách lẩn tránh xã hội (dissocial personality disorder). Vấn đề này sẽ được thảo luận trong phần “Lịch sử”.

Trong thực hành lâm sàng hiện nay, phương pháp phổ biến nhất để chẩn đoán chứng thái nhân cách là dùng Bảng Kiểm tra Thái nhân cách – Có Sửa đổi (PCL-R) của Robert Hare. Hare mô tả những kẻ thái nhân cách như là “những con thú săn mồi trong cùng loài, những kẻ dùng sự hấp dẫn, thủ đoạn, đe dọa và bạo lực để kiểm soát những người khác và đáp ứng nhu cầu riêng ích kỉ của chúng. Do không có lương tâm và cảm xúc với người khác, chúng nhẫn tâm lấy bất cứ cái gì chúng muốn và làm bất cứ điều gì chúng thích, vi phạm chuẩn mực và đạo đức xã hội mà không có chút cảm giác hối hận hay vương vấn nào.” Hare cũng cho rằng mặc dù tỉ lệ thống kê của những kẻ thái nhân cách trong một xã hội bất kì là rất nhỏ, phần đóng góp của chúng vào những đau khổ trong xã hội là đặc biệt lớn. [4] Qua việc nghiên cứu cho thấy những kẻ thái nhân cách rất lão luyện trong việc leo lên những vị trí cao trong giới kinh doanh và chính trị, chúng ta có thể nói chứng thái nhân cách là vấn đề quan trong nhất của xã hội hiện đại.

Với một người ngoài ngành, thuật ngữ thái nhân cách thường được hiểu rộng hơn, và thường bị nhầm lẫn với các rối loạn tâm thần nói chung. Người ta thường coi “kẻ thái nhân cách” là đại diện cho cảm nhận cá nhân của họ về một con người tà ác, thường dưới hình thức một kẻ điên rồ giết người hàng loạt như vẫn được mô tả trong phim ảnh và văn học. Đây là một nhận thức sai lầm đáng tiếc.



Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010

Kẻ thái nhân cách ở nhà bên - Chương 8

Nguồn: The sociopath next door
Tác giả: Martha Stout

Chương mở đầu - Tưởng tượng
Chương 2 - Giống người băng giá: Những kẻ thái nhân cách
Chương 4 - Con người tử tế nhất trên đời
Chương 6 - Cách để nhận ra kẻ vô lương tâm
Chương 8 - Kẻ thái nhân cách ở nhà bên

Kẻ thái nhân cách: Mặt nạ của sự bình thường
Đại cương về chứng thái nhân cách
Rắn độc mặc com-lê

Chương 8: Kẻ thái nhân cách ở nhà bên

Có thể chúng ta là những con rối - những con rối bị điều khiển bởi những sợi dây của xã hội. Nhưng ít nhất chúng ta là những con rối có quan sát, có nhận thức. Và có thể nhận thức là bước đi đầu tiên hướng tới sự giải phóng cho chúng ta. – Stanley Milgram


“Em muốn nói chuyện với ai đó. Em nghĩ có lẽ là vì cha em ở trong tù.” Hannah, cô gái 22 tuổi, xinh đẹp, môi mím chặt, bệnh nhân mới của tôi, nói lí nhí trong khi vẫn quay mặt về phía một trong những tủ sách của tôi phía bên phải. Sau một lúc, cô nhìn thẳng vào tôi một cách rụt rè và nhắc lại: “Em cần ai đó để nói chuyện. Cha em ở trong tù.”

Cô thở hắt ra một tiếng rất khẽ, dường như nỗ lực để nói chừng đó đã rút hết không khí khỏi phổi cô, và rồi cô im lặng.

Khi ai đó đang rất hoảng sợ, và nhất là khi đó, một phần của trị liệu tâm lý chỉ đơn giản là biết cách lặp lại những câu nói của người ngồi đối diện với bạn mà không tỏ ý phán xét hay tỏ vẻ bề trên. Tôi hơi cúi về phía trước, các ngón tay vẫn lồng quanh gối, và cố gắng tìm gặp cặp mắt của Hannah, lúc này đã dán chặt xuống tấm thảm phương Đông ở giữa chúng tôi.

Tôi nói nhỏ nhẹ, “Cha em ở trong tù?”

“Vâng.” Cô từ từ nhìn lên trong khi trả lời, gần như ngạc nhiên, cứ như tôi đã lấy thông tin này bằng thần giao cách cảm. “Ông ấy giết một người. Ý em là ông ấy không cố ý, nhưng ông ấy giết một người.”

“Và bây giờ ông ấy ở trong tù?”

“Vâng. Vâng, ở trong tù.”

Cô đỏ mặt và mắt rơm rớm.

Tôi luôn bị ấn tượng bởi thực tế là chỉ một chút lắng nghe nhỏ nhoi nhất, một gợi ý mỏng manh nhất về khả năng sẽ được nhận sự cảm thông có thể mang lại ngay lập tức dòng cảm xúc mạnh như vậy. Tôi nghĩ đó là vì chúng ta hầu như không bao giờ thực sự được lắng nghe. Trong công việc với tư cách một nhà tâm lý học, tôi luôn được nhắc nhở hàng ngày về thực tế là chúng ta ít được lắng nghe, và những hành động của chúng ta ít được thấu hiểu bởi mọi người xung quanh đến mức nào. Và một trong những trớ trêu của “nghề lắng nghe người khác” của tôi là bài học nó dạy cho tôi rằng trên nhiều khía cạnh, mỗi người trong chúng ta thực sự là một ẩn số với những người xung quanh.


Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2010

Kẻ thái nhân cách ở nhà bên - Chương 6

Nguồn: The sociopath next door
Tác giả: Martha Stout

Chương mở đầu - Tưởng tượng
Chương 2 - Giống người băng giá: Những kẻ thái nhân cách
Chương 4 - Con người tử tế nhất trên đời
Chương 6 - Cách để nhận ra kẻ vô lương tâm
Chương 8 - Kẻ thái nhân cách ở nhà bên

Kẻ thái nhân cách: Mặt nạ của sự bình thường
Đại cương về chứng thái nhân cách
Rắn độc mặc com-lê



Chương 6: Cách để nhận ra kẻ vô lương tâm

Trong hoang mạc, một nhà sư già từng khuyên lữ khách, tiếng nói của Thượng Đế và Quỷ Sứ hầu như không khác biệt. – Loren Eiseley

Trong quá trình hành nghề của mình, một trong những câu hỏi tôi được hỏi nhiều nhất là, “Làm cách nào tôi có thể biết ai là người đáng tin?” Bởi vì các bệnh nhân của tôi đều là những người từng chịu tổn thương tâm lý nặng nề, hầu hết gây ra bởi những người khác, đây là mối quan tâm dễ hiểu với họ. Tuy vậy, tôi có cảm giác rằng đây cũng là vấn đề bức bách với hầu hết chúng ta, kể cả những người chưa từng phải chịu tổn thương tâm lý, và rằng chúng ta đều luôn cố gắng đánh giá về nhân cách của mọi người xung quanh. Chúng ta đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh của những người có quan hệ gần gũi với chúng ta, và khi chúng ta gặp một người bạn mới hấp dẫn nào đó, chúng ta thường tiêu tốn khá nhiều tâm trí trong việc nghi ngờ, phỏng đoán hay mơ tưởng về câu hỏi này.


Những kẻ không đáng tin cậy không mặc bộ sơmi riêng, hay mang dấu hiệu in trên trán, và việc chúng ta thường phải đưa ra những quyết định quan trọng về người khác chỉ dựa trên phỏng đoán chủ quan là chính dẫn đến những quy tắc phi lý, những quy tắc mà nhiều người biến thành sự mê tín cả đời. “Đừng tin ai quá 30 tuổi,” “Không bao giờ tin đàn ông,” “Không bao giờ tin đàn bà,” “Không bao giờ tin ai cả” là những ví dụ phổ biến nhất. Chúng ta muốn có những quy tắc rõ ràng, ngay cả khi chúng là những quy tắc vơ đũa cả nắm, bởi vì việc xác định được ai là người cần đề phòng là cực kỳ quan trọng với chúng ta. Nhưng những quy tắc chung chung này đều không hiệu quả, và tồi tệ hơn, chúng thường mang lại sự lo lắng và bất an trong cuộc sống của chúng ta.

Trừ phi bạn biết rõ ai đó trong nhiều năm, không có một quy tắc hay cách kiểm định hoàn hảo nào cho sự đáng tin cậy, và việc thừa nhận thực tế này là cực kỳ quan trọng, dù cho nó có thể khiến bạn bất an đến đâu. Sự không chắc chắn trong vấn đề này đơn giản là một phần của cuộc sống con người, và tôi chưa từng biết ai giải quyết được nó một cách hoàn toàn. Thêm vào đó, tưởng tượng rằng có một phương pháp hiệu quả - một phương pháp mà đến giờ bạn vẫn chưa biết được - để giải quyết vấn đề đó một cách chắc chắn là bạn đang tự hạ thấp mình một cách bất công.

Khi nói đến chuyện tin tưởng vào người khác, chúng ta đều mắc sai lầm. Trong đó có những sai lầm lớn hơn những cái khác.

Nói vậy nhưng khi mọi người hỏi tôi về sự tin cậy, tôi thường trả lời rằng có tin xấu và có tin tốt. Tin xấu là thực sự tồn tại những cá nhân không có lương tâm, và những cá nhân này không đáng tin cậy chút nào. Có lẽ trung bình bốn trong một nhóm 100 người bất kỳ là như vậy. Tin tốt lành – và đây là tin rất tốt lành – là ở chỗ 96 trong số 100 người bất kỳ là bị ràng buộc bởi lương tâm, và do vậy chúng ta có thể tin tưởng rằng họ sẽ hành động theo một tiêu chuẩn tương đối cao của quy tắc xã hội và tinh thần trách nhiệm. Nói một cách khác, họ sẽ hành động tương tự như bạn và tôi. Và đối với tôi, tin thứ hai này quan trọng hơn tin thứ nhất nhiều. Nó có nghĩa rằng, đáng kinh ngạc thay, theo một tiêu chuẩn xã hội nhất định nào đó, khoảng 96 phần trăm quan hệ giữa người với người trong thế giới của chúng ta là an toàn.

Vậy thì tại sao thế giới này lại có vẻ thiếu an toàn đến mức đáng sợ như vậy? Làm sao chúng ta giải thích các bản tin sáu giờ, hay thậm chí các trải nghiệm không hay của bản thân chúng ta? Cái gì đang xảy ra? Liệu có thể tin được là chỉ 4 phần trăm dân số gây ra hầu hết những điều bất hạnh trên thế giới này, và trong cuộc sống cá nhân của chúng ta? Đây là một câu hỏi bức bách, một câu hỏi có thể làm thay đổi hoàn toàn nhiều giả định của chúng ta về xã hội loài người. Vì vậy tôi xin lặp lại rằng lương tâm là một thứ cực kỳ mạnh mẽ, bền bỉ và hướng thiện. Trừ phi đang bị ảnh hưởng của chứng hoang tưởng loạn thần kinh, cơn thịnh nộ cực điểm, ma túy, bị dồn đến bước đường cùng, hay ở dưới quyền một tay chỉ huy tàn bạo, một người bị ràng buộc bởi lương tâm không bao giờ - và theo một nghĩa nào đó không thể - giết người hay hiếp dâm một cách nhẫn tâm, hay tra tấn người khác, hay đánh cắp tài sản tích cóp cả đời của ai đó, lừa người khác vào mối quan hệ không có tình yêu như một thứ trò chơi, hay cố ý bỏ rơi con cái của chính mình.

Bạn có làm được không?

Khi chúng ta thấy người khác làm những điều như vậy, trên bản tin thời sự hay trong cuộc sống của chính chúng ta, họ là ai? Trong một số ít trường hợp, họ là những người được chính thức thừa nhận là loạn thần kinh, hay đang bị áp lực của những cảm xúc tột điểm. Đôi khi họ là những người bị dồn đến bước đường cùng, hay họ là những kẻ lạm dụng chất kích thích như rượu, ma túy, hay là tay chân của một tay cầm đầu tàn bạo nào đó. Nhưng phổ biến hơn cả, chúng không phải là tất cả những thứ trên. Thay vào đó, chúng là những kẻ không có lương tâm. Chúng là những kẻ thái nhân cách.


Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2010

Kẻ thái nhân cách ở nhà bên - Chương 4

Kẻ thái nhân cách nữ

Tác giả: Martha Stout
Nguồn: The sociopath next door

Chương 4: Con người tử tế nhất trên đời

Tôi thấy một con ma sói uống rượu ở quán Vic. Tóc nó thật đẹp – Warren Zevon

Doreen liếc vào gương chiếu hậu và ước lần thứ một tỷ rằng cô xinh đẹp hơn. Cuộc sống sẽ dễ chịu hơn biết bao. Sáng nay trong gương cô trông có vẻ xinh sau một giấc ngủ ngon và đã trang điểm. Nhưng cô biết rằng nếu kỹ năng trang điểm của cô không tốt, hay nếu cô đang lúc mệt mỏi, trông cô sẽ khá là xấu. Trông cô sẽ xấu như một đứa con gái quê mùa ở quê của cô, trông cô sẽ giống như đáng đi vắt sữa bò hơn là ngồi trong chiếc BMW màu đen này. Cô mới chỉ 34 và da cô vẫn còn tốt, không một vết nhăn, mặc dù có thể hơi xanh xao một chút. Nhưng mũi cô hơi nhọn, đủ để người khác nhận thấy, và mái tóc màu rơm, vấn đề khó giải quyết nhất của cô, cứ khô và quăn tít lên mặc dù cô đã làm mọi cách với nó. May thay, cô có một cơ thể tuyệt hảo. Cô rời mắt khỏi gương và nhìn xuống bộ comlê lụa màu xám đang mặc, hơi cổ lỗ nhưng rất vừa. Người Doreen đẹp, và tốt hơn nữa, cô rất biết cách đi đứng. Với một phụ nữ có một khuôn mặt bình thường, trông cô quyến rũ một cách khó tin. Khi cô đi ngang qua phòng, tất cả đàn ông ở đó đều nhìn theo. Nhớ đến điều này, cô mỉm cười và khởi động chiếc xe.

Đi khỏi nhà chừng hai cây số, cô nhận ra mình đã quên chưa cho con Maltese khốn kiếp ăn. Thôi kệ. Con chó kiểu cách ngu ngốc ấy chưa chết đói được trước khi cô đi làm về tối nay đâu. Lúc này, một tháng kể từ khi mua nó trong cơn bốc đồng, cô không thể tin là cô đã mua nó. Khi đó cô nghĩ rằng nó sẽ làm cô duyên dáng hơn khi dắt nó đi dạo, nhưng việc dắt nó đi dạo đã trở nên chán ngắt. Lúc nào có thời gian, cô sẽ mang đến bác sĩ thú y cho nó đi đời, hay có thể cô sẽ bán cho ai đó. Rốt cuộc, nó khá là đắt tiền.

Trong bãi đỗ xe trải rộng dưới chân bệnh viện tâm thần, cô cố ý đỗ cạnh chiếc Escort rỉ ngoèn của Jenna, một cách so sánh bằng hình ảnh để nhắc nhở Jenna về vị trí tương đối của hai người. Liếc một lần nữa vào gương rồi Doreen nhấc chiếc cặp tài liệu đã được nhồi căng phồng để cho mọi người thấy rõ cô làm việc chăm chỉ đến mức nào, và đi lên cầu thang dẫn đến văn phòng ở trên khu bệnh nhân. Lúc đi ngang qua phòng đợi, cô ném một nụ cười “Chúng ta là bạn tốt” cho Ivy, cô thư ký kiêm tiếp tân lôi thôi lếch thếch, và Ivy tươi tỉnh lên ngay lập tức.

“Chào buổi sáng, bác sĩ Littlefield. Lạy chúa, tôi thích bộ comlê của cô quá đi! Nó thật là tuyệt!”

“Cám ơn Ivy. Chị luôn biết cách mang một tâm trạng tốt đến cho tôi,” Doreen trả lời với một nụ cười rạng rỡ khác. “Bấm chuông gọi tôi khi nào bệnh nhân của tôi đến được không?”

Doreen biến vào phòng, và Ivy lắc đầu và nói to trong phòng đợi không người, “Đấy đúng là con người tử tế nhất trên đời.”

Vẫn còn sớm, chưa đến tám giờ, và Doreen đi đến cửa sổ văn phòng để xem các đồng nghiệp của cô đến. Cô thấy Jackie Rubenstein đi về phía tòa nhà, với đôi chân dài và dáng điệu nhẹ nhàng như thường lệ. Jackie đến từ Los Angeles, tính tình điềm đạm và khôi hài, và làn da olive đẹp làm cô lúc nào trông cũng như mới trở về sau một kỳ nghỉ tuyệt vời. Cô cũng rất thông minh nữa, thông minh hơn Doreen nhiều, và đây là lý do chính giữa nhiều lý do khác khiến Doreen thầm căm ghét cô ta. Trên thực tế, Doreen căm ghét cô ta đến mức cô có thể giết cô ta nếu cô nghĩ cô có thể làm điều đó trót lọt, nhưng cô biết cuối cùng cô sẽ bị tóm. Doreen và Jackie cùng làm sau tiến sĩ ở bệnh viện này tám năm trước, trở thành bạn bè, ít nhất từ phía Jackie là vậy, và giờ đây Doreen nghe đồn Jackie có thể được nhận giải thưởng Giáo Viên Hướng Dẫn Tiêu Biểu của năm. Họ bằng tuổi nhau. Làm sao Jackie có thể được nhận giải thưởng “giáo viên hướng dẫn” ở tuổi 34?