Hiển thị các bài đăng có nhãn CIA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CIA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

Hitler và vợ được Mỹ giúp trốn sang Argentina chứ không tự vẫn?

Tác giả: Diệu Hương
Nguồn: VietnamPlus

Ngày 16/8, nhiều tờ báo phát hành bằng tiếng Tây Ban Nha ở Nam Mỹ đưa tin trùm phátxít Adolf Hitler và vợ đã không hề tự vẫn vào ngày 30/4/1945 như thông tin đã đưa trước đây mà đã trốn chạy sang Argentina.

Theo tài liệu mật mới được giải mã của FBI, chính phủ Mỹ đã biết rằng nhiều năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler và Eva Braun vẫn sinh sống bình thường tại làng La Angostura, thành phố Bariloche, cách thủ đô Buenos Aires hơn 800km về phía Nam, gần biên giới với Chile và nằm ngay dưới chân dãy núi Andes hùng vĩ.

Trước đó, theo quân đội Liên Xô, Hitler và Eva đã tự sát và thi thể của hai người này đã được nhận dạng. Tuy nhiên, tài liệu mật của FBI đã lật ngược tất cả những thông tin trên.

Có vẻ như kẻ bị căm thù nhất trong lịch sử nhân loại đã trốn thoát khỏi Đức và sống một cuộc sống thôn quê yên bình tại một trong những làng nhỏ, ở một thung lũng đẹp nhất của vùng Andes.

Theo FBI, chẳng những thông tin về cái chết của Hitler và Eva Braun đã bị dàn dựng mà ông ta còn được Giám đốc của Cơ quan dịch vụ chiến lược OSS của Mỹ tại Thụy Sĩ, Allen Dulles, giúp trốn thoát.

Tài liệu được giải mật của FBI


Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

Chương trình tra tấn CIA: Ba Lan trả giá cho tội lỗi của Hoa Kỳ

Tác giả: Nat Parry
Nguồn: Essential Opinion
Nguồn dịch: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

Một trong những điều nực cười nhất của cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ và quan hệ xuyên Đại Tây Dương là trách nhiệm dân chủ và bảo vệ nhân quyền ở các nước cựu Liên Bang Soviet có vẻ mạnh mẽ hơn là ở chính quê nhà Hoa Kỳ vào lúc này. Điều này được nêu bật một lần nữa vào tháng trước khi Ba Lan thanh toán ¼ triệu dollar cho hai nghi phạm khủng bố bị CIA tra tấn tại nhà tù bí mật trên lãnh thổ Ba Lan từ năm 2002 đến 2003.

Với phán quyết của Tòa Án Nhân Quyền Châu Âu (ECHR), bản án đã gây ra sự phẫn nộ cho nhiều người Ba Lan. Họ cảm thấy không công bằng khi bị trừng phạt bởi những sai trái của Hoa Kỳ. “Chúng tôi phải trả tiền bồi thường mặc dù người của chúng tôi không làm gì sai,” cựu ngoại trưởng Ba Lan Radoslaw Sikorski nói. Sikorski cho biết Ba Lan là nước duy nhất đã nhận trách nhiệm về việc các quan chức cấp cao của họ cho phép CIA vi phạm nhân quyền trên lãnh thổ của họ.

Sự thiếu trách nhiệm này bao gồm cả Hoa Kỳ. Họ không điều tra hay xét xử các quan chức cấp cao cho phép vi phạm nhân quyền tại các nhà tù bí mật của CIA ở Ba Lan hay bất cứ đâu trên thế giới.

Trong số 119 tù nhân được biết bị giam giữ tại các nhà tù bí mật của CIA từ năm 2001 đến năm 2006, có ít nhất 39 người bị thành viên của CIA tra tấn, theo báo cáo của Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện về tra tấn được công báo vào tháng 12 vừa qua. Hai cá nhân bị tra tấn ở Ba Lan, Abu Zabaydah và Abd al-Rahim al-Nashiri, đã được chuyển tới vịnh Guantanamo, họ ở đó cho tới năm 2006.

Trong khi al-Nashiri đang bị xét xử vì bị cho là đã tổ chức đánh bom chiến hạm USS Cole vào năm 2000 thì Abu Zubayah được coi là một trong số những “tù nhân vĩnh viễn” của Guantanamo khi không có bản án hay phiên tòa nào được dự định. Thậm chí không có một quyết định sơ bộ nào cho trường hợp của anh trong gần bảy năm. Trong một bài viết ngày 12 tháng 5 năm 2015, tờ ProPublica cho biết trường hợp của anh đã bị trì hoãn “2.477 ngày và vẫn tiếp tục”.

Một trong các luật sư của anh, Hellen Duffy, viết trong tờ Guardian vào tháng 12 vừa qua, sau khi bản tóm tắt báo cáo của thượng viện được công bố, “hiện giờ Abu Zubaydah có thể được coi là tang vật loại A” trong chương trình giam giữ và tra tấn của CIA.

“Anh ấy có vinh dự đáng tiếc là nạn nhân đầu tiên của chương trình tra tấn CIA. Như báo cáo đã làm rõ, nhiều kỹ thuật tra tấn (hay “thẩm vấn nâng cao”) đã được phát triển và anh ấy là tù nhân duy nhất chúng ta biết đã bị trải qua tất cả những thứ đó,” Duffy viết.

Báo cáo của thượng viện có khoảng 1.000 dẫn chiếu đến trường hợp Abu Zubaydah, xác nhận các phát hiện của ECHR liên quan đến những kỹ thuật thẩm vấn mà anh ta phải chịu đựng.

Trong đó có “walling” (liên tục bị ném vào tường), không cho ngủ tới 180 giờ (thường là khỏa thân trong tư thế căng thẳng) và nhấn nước. Việc nhấn nước Abu Zubaydah, anh ta bị nhấn nước 83 lần trong 1 tháng, được cấp cao nhất của chính quyền Hoa Kỳ cho phép.

Anh ta cũng phải chịu những hình thức giam giữ cực đoan.

“Trong 20 ngày liên tục của 'giai đoạn thẩm vấn quyết định', AbuZubayah bị giam tổng cộng 266 giờ (11 ngày, 2 giờ) trong một chiếc hộp giam giữ có kích thước bằng chiếc quan tài và 22 giờ trong hộp giam nhỏ với chiều rộng 0,53 cm, chiều sâu 0,77m và chiều cao 0,77m,” theo báo cáo của thượng viện. “Nhân viên thẩm vấn của CIA nói với Abu Zubaydah rằng cách duy nhất anh ta có thể ra khỏi nhà tù là trong một chiếc hộp giam hình quan tài.”



Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Tổ chức phi chính phủ (NGO): Công cụ cách mạng màu và bạo loạn lật đổ của CIA

Nguồn: Tổng hợp từ VietnamDefence.comBlog Thời Thổ Tả

Lời dẫn từ VietnamDefence.com:

Trong bài báo mới của mình, TS Khoa học chính trị Đại học Tổng hợp Princeton và bình luận viên thường xuyên của NEO F William Engdahl nhận xét, hàng loạt sửa đổi trong luật “Về các tổ chức phi thương mại (phi chính phủ)” được Tổng thống Nga Vladimir Putin ký ngày 23/5/52015 sẽ mở rộng mạnh mẽ thẩm quyền của các cơ quan chấp pháp Nga trong hoạt động đối phó với các tổ chức “đại diện nước ngoài” (các tổ chức phi chính phủ (NGO), xã hội dân sự Nga nhận tiền từ Mỹ và phương Tây để hoạt động chính trị) đang tìm mọi cách tổ chức, kích động bất ổn trên lãnh thổ Nga.

Không có gì phải ngạc nhiên khi các quan chức Washington và tiếp sau họ là các quan chức châu Âu đã lên tiếng chỉ trích Nga dữ dội về quyết định này với cớ quan tâm “bảo vệ quyền của công dân Nga”.

Tuy vậy, tác giả tin rằng, trong điều kiện cuộc chiến không tuyên bố mà phương Tây khai triển chống Nga thì khó trông chờ ở Moskva sự nhẫn nại đối với các “tổ chức đại diện nước ngoài” (agent) hoạt động tự do vô luật pháp trên đất Nga.

Tác giả lưu ý rằng, vào năm 1991, Mỹ đã thành lập Quỹ Quốc gia vì dân chủ (NED) mà “các đại diện” của nó đang hoạt động trên khắp thế giới, còn giám đốc đầu tiên của Quỹ thì thành thật thừa nhận rằng, “những chiến dịch mà chúng tôi đang làm hôm nay thì đâu đó 25 năm trước các điệp viên CIA đã làm trong hoàn cảnh bí mật cực kỳ nghiêm ngặt”.

Hiển nhiên là các chính trị gia phương Tây sẽ phản đối mỗi khi họ bị tước mất khả năng sử dụng công cụ yêu thích để tổ chức các cuộc đảo chính nhà nước tại các nước địch thủ của Nhà Trắng. Xin giới thiệu cùng quý vị tham khảo bản dịch bài báo "Chủ quyền, kích động nổi loạn và các tổ chức NGO ‘không mong muốn’ của Nga" (Sovereignty, Sedition and Russia’s Undesirable NGOs) của F. William Engdahl.

Luật mới về NGO - đòn hiểm kết liễu các chiến dịch của phương Tây ở Nga

Ngày 23/5/2015, Tổng thống Nga Vlaldimir Putin đã ký ban hành luật mới do Duma đệ trình, cho phép các công tố viên tuyên bố các tổ chức nước ngoài và quốc tế là “không mong muốn” (có hại) ở Nga và đóng cửa chúng. Đúng như dự đoán, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Marie Harf lập tức tuyên bố, Mỹ “quan ngại sâu sắc” về luật mới của Nga và gọi nó là “một ví dụ nữa về sự gia tăng trấn áp các tiếng nói độc lập của Nga và những bước đi nhằm cô lập người dân Nga với thế giới”.

Theo luật mới, chính quyền Nga có thể cấm các tổ chức NGO nước ngoài và truy tố các nhân viên của họ với các hinh phạt có thể lên đến 6 năm tù giam hoặc bị cấm xuất cảnh. EU đã theo bước Bộ Ngoại giao Mỹ khi gọi luật này là một “bước đi đáng lo ngại trong một loạt các hạn chế, cấm đoán đối với xã hội dân sự, truyền thông độc lập và đối lập chính trị”. Tổ chức Theo dõi nhân quyền - Human Rights Watch - một NGO do tỷ phú George Soros tài trợ cũng lên án luật này giống như Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International).

Giống như nhiều thứ trong thế giới chính trị mập mờ ngày nay, nền tảng cho luật mới đáng để chúng ta tìm hiểu. Thay vì đi đều theo hướng biến Nga thành một nhà nước phát xít, luật mới có thể giúp bảo vệ chủ quyền quốc gia tại thời điểm quốc gia này đang ở trong một trạng thái chiến tranh trên thực tế (de facto) với trước hết là Mỹ và với những người phát ngôn NATO khác nhau, những người đang cố gắng để phụ họa lấy lòng Washington như Jens Stoltenberg, quan chức dân sự đứng đầu mới và có thái độ bài Nga của NATO.



Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Chiến tranh Việt Nam được bắt đầu bởi CIA như thế nào

Em bé Napalm

Tác giả: Tony Bonn
Nguồn: The American Chronicle
Dịch bởi Dấu Hiệu Thời Đại

Nếu bạn là một người Mỹ bình thường, bạn có thể tin rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam là cuộc đấu tranh của tự do chống lại áp bức, lẽ phải chống lại sự sai trái, hay nó có liên quan theo một cách mơ hồ nào đó đến việc bảo vệ lối sống Mỹ. Điều không may là không một cái nào trong những lý do đó là sự thật. Trên thực tế, chúng là một phần của chiến dịch tẩy não nhằm đảm bảo sự ủng hộ của người dân Mỹ cho cuộc chiến tranh đẫm máu, xấu xa và không thể thắng lợi này. Sự thật là CIA đã tạo dựng ra cuộc chiến tranh này ngay từ đầu nhằm cung cấp vỏ bọc an toàn cho bao nhiêu hành động giết người máu lạnh dưới danh nghĩa chiến tranh.

Fletcher Prouty là một cựu đại tá Không quân Hoa Kỳ đã quá cố. Ông từng làm việc tại Lầu Năm Góc, có liên hệ chặt chẽ với CIA trong khoảng thời gian 1940 – 1960 và có cái nhìn bao quát tổng thể về sự phát triển của chính sách Hoa Kỳ trong thời tổng thống Eisenhower và sau đó. Trong cuốn sách JFK: CIA, Việt Nam và Âm mưu Ám sát John F. Kennedy (JFK: The CIA, Vietnam and the Plot to Assassinate John F. Kennedy), ông kể lại câu chuyện bẩn thỉu về việc các nhà tài phiệt Mỹ đã lên kế hoạch cho cuộc Chiến tranh Việt Nam trong nửa cuối của Thế Chiến II, và những giai đoạn khác nhau của cuộc chiến dẫn tới cuộc xâm lược khổng lồ của Hoa Kỳ vào bán đảo Đông Dương.

Trước khi mô tả khía cạnh chính trị và quân sự của cuộc chiến tranh, cần phác thảo bản chất địa lý xã hội của mảnh đất được biết dưới cái tên Việt Nam. Tất cả Việt Nam là một cộng đồng bộ tộc dựa trên liên minh lỏng lẻo giữa các làng xã và mối gắn kết trung tâm là việc thờ cúng tổ tiên và bản sắc dòng họ. Các làng xã chủ yếu tự cung tự cấp với mỗi gia đình thường làm nông nghiệp trên mảnh ruộng thuộc về gia đình trong nhiều thế kỷ. Lối sống này đã tồn tại trong hàng ngàn năm trước khi người Pháp đến vào cuối thế kỷ 18.

Trong bất cứ hoàn cảnh bình thường nào, người Việt cũng sẽ không bao giờ rời bỏ lối sống cổ xưa này, ngay cả dưới sự giám hộ của Pháp cũng vậy. Vùng phía bắc chủ yếu có các dân tộc bản địa Bắc Bộ và vùng phía nam là các dân tộc bản địa Nam Bộ. Hai nhóm dân tộc này khác nhau và không liên quan với nhau một cách tự nhiên, nhưng họ có những tập tục văn hóa tương tự. Nhóm người phía nam thịnh vượng hơn do là vựa lúa của châu Á. Tuy nhiên, những vùng này hoàn toàn không phải là quốc gia theo nghĩa hiện đại của từ này. Việt Nam là một vùng quản lý hành chính đối với người Pháp nhưng không có nghĩa gì đối với người Việt bản xứ. Nhưng điều này không ngăn được CIA giả vờ rằng miền nam Việt Nam tồn tại như một quốc gia thực sự.

Đến cuối thế kỷ 19, có hai thế lực ảnh hưởng chính trong khu vực - người Pháp và người Trung Quốc. Người Pháp kiểm soát hệ thống ngân hàng, cảnh sát, tòa án và các doanh nghiệp công nghiệp tham lam của họ như Michelin. Người Trung Quốc cung cấp dịch vụ thương mại trung gian, mua gạo dư thừa của người Việt, bán hàng hóa cần thiết cho đời sống và bạc cho khoản dư sau khi trao đổi gạo và hàng hóa.

Trong Thế Chiến II, người Nhật chinh phục được vùng này và áp đặt chế độ cai trị còn tàn bạo hơn người Pháp. Nhưng người Pháp đã chiếm lại và đặt lại chế độ cai trị của họ với sự giúp đỡ của một ít lực lượng vũ trang. Đến cuối Thế Chiến II, Hoa Kỳ gửi một lượng lớn vũ khí từ Okinawa đến Việt Nam, bề ngoài là để vũ trang cho Hồ Chí Minh và lực lượng Việt Minh của ông ta, những người đang cố gắng thiết lập một đất nước Việt Nam tự do - nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam - đồng thời bảo tồn phong tục tổ tiên của họ dưới sự bảo trợ của một chính phủ hiện đại. Tuy nhiên, CIA đã có lệnh phá hoại mối quan hệ Hoa Kỳ - Đông Dương này nhằm theo đuổi những mục đích cao hơn của cuộc Chiến Tranh Lạnh được lập kế hoạch từ trước khi thế chiến kết thúc.