Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Vì sao châu Âu ồ ạt rút vàng khỏi kho chứa ở Mỹ?

Tác giả: Nhàn Đàm
Nguồn: BaoNga.com

Châu Âu và cả thế giới đang nín thở theo dõi những động tĩnh ở EU vào thời điểm hiện tại, khi hai gương mặt nổi bật nhất liên quan đến vấn đề lớn nhất của EU hiện tại là Đức và Hy Lạp chạm trán nhau trong một cuộc gặp có thể quyết định số phận của cả khu vực đồng tiền chung. EU tan vỡ hay không?

Liên minh Châu Âu có thể đứng trước nguy cơ tan vỡ là kịch bản xấu nhất đang được đưa ra khi vấn đề Hy Lạp có thể trở thành ngòi nổ kích hoạt cho việc một loạt các nước khác đòi rời khỏi khu vực đồng tiền chung. Dù vẫn còn quá sớm để dự đoán điều gì sẽ xảy ra, nhưng có vẻ như câu trả lời lại đang nằm ở một thứ khác, đó là vàng.

Chưa bao giờ mà câu chuyện về vàng lại trở nên sôi động và ầm ĩ hơn thời điểm hiện tại ở Châu Âu. Thứ kim loại quý bậc nhất này từ lâu vẫn được coi là một trong những mặt hàng chủ yếu nhất trên thế giới và luôn có ảnh hưởng nhất định đến thị trường tiền tệ thế giới. Dù đã qua giai đoạn bản vị vàng nơi tiền giấy được cố định chặt chẽ vào vàng, thì thứ kim loại lấp lánh này vẫn không mất đi giá trị của nó.

Hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn dự trữ một lượng vàng nhất định như một sự đảm bảo cần thiết cho trụ cột của nền kinh tế. Thế nhưng chưa khi nào, kể từ khi chế độ bản vị vàng chấm dứt, vàng lại có ảnh hưởng mang tính quyết định đến vận mệnh một nền kinh tế.

Thế nhưng nó lại đang dần trở thành sự thực ở thời điểm hiện tại, ở Châu Âu. Dấu hiệu đầu tiên lờ mờ xuất hiện khi Hà Lan không kèn không trống chuyển 120 tấn vàng dự trữ của mình từ Mỹ về Amsterdam vào tháng 11.2014. Giải thích điều này, ngân hàng trung ương Hà Lan tuyên bố điều này sẽ khiến người dân cảm thấy yên tâm hơn.

Không ai nói ra, nhưng tất cả đều hiểu Hà Lan làm điều này là để đề phòng trường hợp xấu nhất, khi cuộc khủng hoảng kinh tế ở Châu Âu vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục. Khi có vàng trong tay, Hà Lan vẫn có thể gượng dậy nếu khu vực đồng tiền chung tan vỡ, vì lượng dự trữ vàng luôn có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong việc phát hành đồng tiên riêng của mỗi quốc gia.

Không chỉ có Hà Lan, người Đức tỏ ra là những người có tầm nhìn xa trông rộng hơn khi đã lên kế hoạch chuyển 300 tấn vàng dự trữ của mình ở New York về nước vào năm 2013. Việc Đức, nước sở hữu 3386 tấn vàng, nhiều thứ hai thế giới sau Mỹ, tìm cách chuyển dần lượng vàng dự trữ của mình ở nước ngoài về nước làm dấy lên một loạt các động thái tương tự từ các quốc gia Châu Âu khác.

Lần lượt Áo, Thụy Sĩ đều yêu cầu chính phủ đưa vàng về nước, trong khi Pháp thì đòi kiểm kê lượng vàng dự trữ trong kho. Cũng giống như Hà Lan, tất cả các nước Châu Âu muốn đưa vàng dự trữ về nước đều đang cảm thấy nguy cơ ở khu vực đồng tiền chung đang gia tăng và có thể nhấn chìm các quốc gia thành viên nếu họ không chuẩn bị từ trước.



Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Trung Quốc đưa ra chuẩn giao dịch dầu thô đầu tiên không thanh toán bằng USD

Nguồn: Báo Đất Việt

Trung Quốc đang có kế hoạch để khởi động chuẩn dầu riêng của mình trong tháng 10, tương tự như dầu Brent và dầu WTI.

Theo thông tin trên hãng RT của Nga, kế hoạch trên nhằm giúp Trung Quốc có vai trò quan trọng hơn trong việc thiết lập giá dầu thô thế giới.

Theo kế hoạch này, các hợp đồng dầu của Trung Quốc sẽ được thanh toán bằng nhân dân tệ chứ không dùng đồng USD.

Reuters cho biết, Trung tâm Giao dịch Năng lượng Quốc tế tại Thượng Hải đã gửi một bản dự thảo hợp đồng kỳ hạn để tham gia thị trường vào tháng 8.

Dầu thô giao sau sẽ là hợp đồng đầu tiên của Trung Quốc cho phép sự tham gia trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đây không phải là bước đầu tiên nhằm mở cửa thị trường dầu thô lớn ở Trung Quốc.

Vào tháng 7/2015, Bắc Kinh đã cho phép các công ty tư nhân nhập khẩu dầu thô. Trước đó, việc nhập khẩu dầu chỉ được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhà nước như Sinopec, Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc và Tổng Công ty Dầu khí ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc.

Thùng dầu chuẩn mới của Trung Quốc sẽ cạnh tranh với các hợp đồng trên thị trường dầu thô, vốn có giá trị hàng nghìn tỷ USD và bị chi phối bởi chuẩn dầu Brent giao dịch ở London và WTI, chuẩn dầu của Mỹ.

Dầu Brent biển Bắc bắt đầu được phát triển vào những năm 1970. Với sản lượng xấp xỉ 1 triệu thùng mỗi ngày, Brent được coi là chuẩn tham chiếu giá dầu và hiện được sử dụng để định giá cho khoảng 2/3 lượng dầu của thế giới.

Trong khi đó, Trung Quốc là một trong những nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới. Gần 60% sản lượng dầu Trung Quốc tiêu thụ phải nhập khẩu.

Nhận xét: Độc quyền trong giao dịch dầu mỏ là yếu tố chính duy trì vị thế thống lĩnh của đôla Mỹ trên thị trường quốc tế và là tấm séc trắng cho phép chính quyền Mỹ làm những gì họ đã làm trong 50 năm vừa qua mà không phải chịu hậu quả. Với hệ thống tài chính quốc tế mới đang dần được xây dựng bởi Nga và Trung Quốc, kỷ nguyên đẫm máu của Hoa Kỳ đang đi đến hồi kết.

Xem thêm:



Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Vùng Viễn Đông của Nga mở rộng cửa cho nhà đầu tư Việt Nam

Nguồn: Sputnik Việt Nam

Vùng Viễn Đông của Nga với diện tích rộng lớn, về mặt địa lý gần gũi với Việt Nam, đang chờ đợi các nhà đầu tư Việt Nam.

Sau khi Nga đưa vào hiệu lực Luật Liên bang về thành lập các vùng lãnh thổ phát triển vượt trội về mặt kinh tế-xã hội, ở vùng Viễn Đông đã xóa bỏ các rào cản trước đây ngăn cản sự phát triển hợp tác song phương.

Bây giờ tại vùng Viễn Đông tạo điều kiện thuận lợi nhất chưa từng có cho các nhà đầu tư nước ngoài. Họ được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thuế về khai thác và chế biến khoáng sản đã giảm mấy lần. Trong 5 năm đầu tiên — thuế thu nhập doanh nghiệp bằng 0. Đã giảm đáng kể mức thuế suất và các khoản bảo hiểm. Bây giờ các nhà đầu tư không còn phải có giấy phép đăng ký để tuyển dụng người lao động nước ngoài. Hủy bỏ việc phân bổ hạn ngạch sử dụng lao động nước ngoài, tức là, không có hạn chế về số lượng lao động nhập cư tại các doanh nghiệp, không đòi hỏi có kiến thức về ngôn ngữ tiếng Nga và lịch sử nước Nga. Các nhà đầu tư nước ngoài không còn phải dành nhiều thời gian để nhận giấy phép làm việc ở vùng Viễn Đông. Bây giờ có dịch vụ thuận tiện cấp giấy phép trong một vài ngày. Chuyên gia Artyom Sohikyan, Phó Cục trưởng Cục quan hệ kinh tế của Bộ Phát triển Viễn Đông, nói:

"Kết quả là, đã thành lập cơ sở pháp lý cho sự đối tác, mà các đại diện của Việt Nam đã từng nói đến".

Ví dụ, có kế hoạch xây dựng cụm hóa học để chế biến dầu mỏ và khí đốt trong khu vực Nakhodka, một trong những thành phố cảng lớn nhất ở vùng Viễn Đông của Nga. Một số công ty Việt Nam thể hiện sư quan tâm đến dự án này. Phía Việt Nam cũng quan tâm đến việc đầu tư vào ngành hoá khí, chế biến gỗ và sản xuất nông phẩm, vào sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa, cũng như vào việc thành lập các doanh nghiệp dệt may ở vùng Viễn Đông.

Triển vọng các dòng vốn đầu tư mới vào vùng Viễn Đông đã được thảo luận tại cuộc gặp gần đây của các đại diện Bộ Phát triển Kinh tế Liên bang Nga với phái đoàn của Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Artyom Sohikyan cho biết:

"Tại cuộc gặp này hai bên đặc biệt chú ý đến sự tham gia của Việt Nam vào Diễn đàn kinh tế phương Đông sẽ được tổ chức tại Vladivostok vào những ngày 3-5 tháng Chín năm nay. Tham gia hoạt động này sẽ có các nhà đầu tư lớn của châu Á. Như được biết, Bộ trưởng Bộ Công Thương sẽ dẫn đầu phái đoàn Việt Nam".

Trong 5 năm qua, kim ngạch thương mại giữa Nga và Việt Nam tăng trung bình 20% mỗi năm. Các chuyên gia Nga cho rằng, hiện có đủ điều kiện để đến năm 2020 kim ngạch thương mại giữa hai nước lên đến 10 tỷ đô la. Kể cả nhờ vào các địa điểm đầu tư tiềm năng mới ở khu vực Viễn Đông.



Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

Thị trường vàng mới do Nga và Trung Quốc tạo ra sẽ phá vỡ vị thế đồng đôla

Nguồn: topwar.ru
Nguồn dịch: Kichbu Blog

Nhà kinh tế Mỹ William Engdahl cho rằng, giá vàng trên sàn giao dịch chứng khoán của New York và London không phản ánh giá trị thực sự của nó như một tiêu chuẩn của sự ổn định tiền tệ và dự trữ ngoại hối. Các ngân hàng lớn của phương Tây duy trì nó thấp một cách giả tạo, bởi vì mức giá cao của kim loại vàng đe dọa vai trò đồng tiền dự trữ chính của đồng dollar, RIA "Novosti" viết.

Theo ý kiến của Engdahl, việc tạo ra một thị trường vàng mới, mà LB Nga và Trung Quốc đã bắt đầu, sẽ phá hủy âm mưu Mỹ - Anh nhằm thao túng giá, tạo thành những trở ngại cho việc di chuyển tự nhiên của kim loại vàng trong nền kinh tế thế giới.

Vào tháng Năm năm nay, Trung Quốc tuyên bố thành lập quỹ đầu tư vàng lớn nhất thế giới 16 tỷ dollars. Trong số các nhà đầu tư của nó có hai trong số các công ty khai thác vàng lớn nhất của Trung Quốc. Đồng thời, Trung Quốc đã có kế hoạch đầu tư vào các dự án khai thác kim loại quý dọc theo "Con đường tơ lụa" Á Âu, trong đó có cả trên lãnh thổ Nga.

Nhà kinh tế cũng nhấn mạnh rằng trong năm tháng đầu tiên của năm 2015, LB Nga đã tăng sản lượng khai thác vàng lên sáu lần và đến gần mức đồng rubla được đảm bảo bằng vàng. Ngay các quan chức Trung Quốc, đang có kế hoạch biến đồng nhân dân tệ thành tiền tệ dự trữ toàn cầu, cũng mong muốn hỗ trợ cho đồng tiền quốc gia bằng kim loại vàng.

Nga và Trung Quốc đang đứng vị trí đầu tiên và thứ ba trong danh sách các nhà sản xuất vàng, Nam Phi thành viên của BRICS - vị trí thứ bảy, Uzbekistan, thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải - thứ tám. Theo nhà kinh tế Mỹ, cùng nhau các nước này đang chậm rãi nhưng chắc chắn tạo một sự thay thế cho hệ thống dựa trên đồng dollar bị phình ra gây, và điều này gây nên những lo ngại nhất định ở Washington.

Nhận xét: Có rất nhiều bằng chứng cho thấy giá vàng đã bị kìm nén một cách giả tạo trong mấy chục năm vừa qua bởi hệ thống tài chính phương Tây. Sở dĩ họ làm được như vậy vì những trung tâm giao dịch vàng lớn nhất trên thế giới tại London, Chicago, New York đều nằm dưới sự kiểm soát của phương Tây. Thị trường vàng do Nga và Trung Quốc tạo ra đã thay đổi điều đó. Cùng với nhiều yếu tố khác, thị trường vàng này sẽ góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của hệ thống tài chính phương Tây, và hy vọng sẽ mang lại một hệ thống tài chính kinh tế mới công bình hơn. Để hiểu thêm về bản chất của hệ thống tài chính hiện đại, mời các bạn xem bài viết: Năm 2015, khối BRICS chiếu tướng giới tài chính phương Tây?.

Xem thêm:



Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Kết quả của "dân chủ" tại Ukraine: Dân đói, quan giàu, chính phủ tăng chi quân sự

Quảng trường Độc lập tại Kiev trước và sau cuộc đảo chính. Sự thay đổi này cũng
đại diện cho sự thay đổi của đất nước Ukraine sau quá trình "dân chủ" của phương Tây.

Tác giả: Nhật Nam
Nguồn: Báo Đất Việt

Kinh tế Ukraine đang ở bên miệng vực

Tờ The New York Observer dẫn lời tác giả Mikhail Klikushin rằng, nền kinh tế Ukraine đã rơi vào cuộc khủng hoảng nặng nề, và giới thượng lưu Kiev đã lâm vào trạng thái choáng váng trong cơn hấp hối. Ukraine đã nhận thức được rằng, họ gần như không có gì để cung cấp cho thế giới.

Với trạng thái hiện tại của ngành công nghiệp, Ukraine phải mất nhiều năm dài mới vực dậy được nền kinh tế ngang với lúc trước khủng hoảng. Còn để mức sống của người dân được nâng lên tiêu chuẩn cao của châu Âu thì Kiev còn phải đi trên con đường vô vàn chông gai.

Một ví dụ điển hình về sự suy sụp của nền kinh tế Ukraine là ngay cả sản phẩm xuất khẩu quan trọng nhất của nước này là muối (loại muối được sử dụng ở châu Âu để làm sạch các tuyến đường khỏi tuyết và bùn vào mùa đông) được coi là quá "bẩn", vì hàm lượng khoáng quá cao.

Theo đánh giá của quan sát viên tờ “The New York Observer”, trong lĩnh vực tài chính tình hình cũng rất đáng thất vọng.

Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Trung ương Ukraine chỉ còn gần 10 tỷ USD, trong khi đó, tổng số nợ nước ngoài (của nhà nước và tư nhân) đã lên đến khoảng 200 tỷ USD (chiếm khoảng 110,5% GDP).

Hiện nay, mỗi người dân Ukraine nợ các tổ chức tài chính quốc tế 3.200 USD cộng thêm 350 USD cho các khoản tín dụng thu được trong năm nay. Trong đó, những người về hưu với thu nhập hàng tháng gần 43 USD là tầng lớp có điều kiện sống ngang với mức “vất vưởng”.

So với hai năm trước đây, mức lương trung bình ở Ukraine là 500 USD mỗi tháng, mà khi đó giá cả hàng hóa thấp hơn hai lần. Kiev công bố mức trượt giá giả tạo 35%, trong bối cảnh lương giảm đi gần 10 lần là đã quá khổ, nhưng trên thực tế, tỷ lệ trượt giá là 272%, cao nhất trên thế giới - thì nhân dân sống bằng gì?

Tác giả Michael Klikushin viết tiếp, thêm vào đó, nếu Kiev không thuyết phục được các đối tác quốc tế cung cấp một khoản vay mới trị giá 1 tỷ USD và thêm 300 triệu USD để mua khí đốt và than đá, thì người dân Ukraine lại có thể đối mặt mùa đông "tê cóng"….

Vì thế, không ngẫu nhiên mà Thủ tướng Ukraine Arseniy Yatsenyuk thường sử dụng từ "Kamikaze" khi nói về bản thân…

Dân đói khổ nhưng chính khách “khỏi phải lo”

Nhà phân tích Mỹ nhận xét rằng, trong khi đó, không phải mọi người Ukraine đều phải sống trong cảnh thắt lưng buộc bụng.

Ví dụ, những chính khách “ngoại nhập” của Ukraine như tân thống đốc Odessa Mikhail Saakashvili tuyên bố công khai rằng, những người nộp thuế ở Mỹ tài trợ cho lối sống xa hoa của ông, còn Bộ trưởng Tài chính Natalia Yaresko xuất hiện trên màn hình tivi với đầy vàng đeo trên người.

Và bản thân Tổng thống Poroshenko là một nhà tỷ phú trước khi lên nắm quyền, và ông ngày càng giàu thêm nhờ việc… đất nước lâm vào khủng hoảng.

Sau một năm nắm quyền, Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko đã giàu lên gấp 8 lần. Vào năm 2013, thu nhập của ông được kê khai là 51 triệu hryvna (2 triệu USD) thì con số được công bố của năm 2014 là 369 triệu hryvnia (hơn 17 triệu USD).



Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Khủng hoảng nợ Hy Lạp: Những gì bạn không biết từ báo chí

Nguồn: Blog Thời Thổ Tả
Dựa trên bài tiếng Anh từ Nation Of Change

Chúng ta đề cập đến phần cuối cùng, không phải là bộ phim hành động kiểu Mỹ mà là những vụ cướp trong đời thực: cướp bởi nhà băng.

Đây là câu chuyện kinh điển, đã và đang xảy ra khắp nơi, không riêng gì Hy Lạp.

Chuyện rằng có 1 gã nhà băng béo ú tốt bụng đến bảo: tiền của tôi đây, các vị cứ lấy mà dùng, 10 năm, 20 năm hay 100 năm sau trả tôi cũng được. Chỉ xin mỗi năm trả thêm cho tôi 1%.

Xem ra rất hời! Ông lão Aristotle bùi tai vứt đồng drachma cầm 100 tỷ bạc, bằng đúng toàn bộ tài sản đất nước Hy Lạp. Ông xây cầu, dựng thành, mở trường triết học, ông phát tiền cho dân chúng ăn chơi phè phỡn – ai ai cũng sung sướng.

100 năm sau, gã béo tốt bụng đến đòi nợ. Bây giờ con cháu ông Aristotle gom góp cũng chỉ trả được có đúng 100 tỷ bạc. Họ không thể lấy đâu ra thêm 1 đồng nào nữa bởi họ không có máy in tiền.

Họ đành gán quốc gia cho gã nhà băng và khăn gói lên đường ăn mày.

Câu chuyện cướp bởi nhà băng này trong thực tế không cần đến 10 năm, bởi nó nhiều mánh khóe, thủ đoạn và dã man nhiều lần hơn thế.

Nhưng trên báo chí chính thống, chúng ta chỉ nghe rủa: dân Hy Lạp ăn chơi, trốn thuế, lương cao, nghỉ hưu sớm, không chịu làm việc, vung tay quá trán, chi tiêu quá nhiều và phá sản.

Tất cả những điều này ít nhất cũng là có thật 1 phần. Nhưng hoàn toàn không nghe thấy chuyện cướp bởi nhà băng.

Và ngoại trừ việc nó là gã béo nói dối... không chỉ về Hy Lạp, mà còn về các nước EU khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý và Ireland, tất cả những ai đang trải qua mức độ thắt lưng buộc bụng khác nhau. Cùng dối trá như thế đã được đám nhà băng dùng để cướp bóc Mỹ La tinh, châu Phi, châu Á bao nhiêu năm qua.

Dĩ nhiên, Hy Lạp không tự sụp đổ, chúng đã làm họ sụp đổ!

Nói gọn lại, đám nhà băng đã nhận chìm chính phủ Hy Lạp, rồi cố tình đẩy họ vào tình trạng nợ không trả được... khi đó, từ tài sản công cho đến lợi tức bị bán tống bán tháo cho bọn đầu sỏ chính trị và các tập đoàn nước ngoài. Phần còn lại của bài sẽ giải thích tại sao và như thế nào.

Có thể bạn khoái những bộ phim kiểu mafia hoặc Bố già! Chắc bạn đã biết cách bọn mafia chiếm đoạt 1 nhà hàng nổi tiếng. Đầu tiên, chúng sẽ làm cái gì đó để công việc kinh doanh bị gián đoạn – dựng lên 1 vụ giết người hay bắt đầu một đám cháy đều được. Khi doanh nghiệp bắt đầu phải chịu đựng, Bố già xuất hiện và sẽ hào phóng đề nghị một số tiền như dấu hiệu hữu hảo. Đổi lại, hắn đưa tay chân vào kế toán của nhà hàng, gã đàn em làm chân phụ trách mua sắm, và cứ như vậy. Không cần phải nói, đó là một vòng xoáy đau khổ của chủ sở hữu, anh ta sẽ sớm phá sản, và nếu may mắn thì còn sống.

Câu chuyện cướp bóc Hy Lạp của đám nhà băng tuy có phức tạp hơn nhưng cơ bản là tương tự như vậy, nó gồm 4 bước.



Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Trở thành thành viên khối BRICS là lối thoát cho Hy Lạp sau trưng cầu dân ý?

Tác giả: Thiên Nam
Nguồn: Báo Đất Việt

Dân Hy Lạp quyết không chịu “Thắt lưng buộc bụng”

Ngày 5-7, tại Hy Lạp đã diễn ra cuộc trưng cầu ý dân về các điều kiện thỏa thuận của nước này với chủ nợ quốc tế. Hoạt động bỏ phiếu để thực hiện “Sáng kiến” do Thủ tướng nước này là ông Alexis Tsipras đề xuất, diễn ra từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối theo giờ địa phương.

Người dân Hy Lạp được đề nghị xác định liệu quốc gia này sẽ chấp nhận hay từ chối điều kiện của các chủ nợ quốc tế, trong thương lượng tìm lối thoát khỏi vỡ nợ, trong bối cảnh Thủ tướng Chính phủ Tsipras và Bộ trưởng Tài chính Yanis Varufakis đã kêu gọi người Hy Lạp nói "Không".

Các quan chức chính phủ nước này cáo buộc các chủ nợ đang "khủng bố" Hy Lạp. Đồng thời cả Thủ tướng Chính phủ Tsipras và Bộ trưởng Tài chính Yanis Varufakis đều khẳng định, họ sẽ từ chức nếu người dân nước này đồng ý chấp thuận các điều kiện của chủ nợ.

Tuy nhiên, kết quả bỏ phiếu cho thấy đa số dân nước này ủng hộ chính phủ của Thủ tướng Tsipras - thuộc Liên minh các đảng cánh tả Hy Lạp (SYRIZA) theo trường phái “chống khắc khổ” - quyết tâm từ bỏ chính sách “thắt lưng buộc bụng”, không chấp thuận điều kiện do các chủ nợ quốc tế đưa ra.

Theo kết quả sơ bộ cuộc trưng cầu dân ý, chỉ có 38,7% câu trả lời là “Đồng ý”, còn lại hơn 61,3% cử tri Hy Lạp nói "Không" với các gói cứu trợ thắt lưng buộc bụng của châu Âu. Kết quả trên được đưa ra sau khi hơn 95% các điểm bỏ phiếu toàn quốc được kiểm phiếu.

Sau khi biết kết quả cuộc trưng cầu dân ý, hàng chục ngàn người dân Athens đã kéo ra đường và tụ tập tại trung tâm quảng trường Syntagma để ăn mừng chiến thắng, bất chấp viễn cảnh nước này vỡ nợ và phải rời khỏi Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone).

Theo Bộ Tài chính Hy Lạp tổng số nợ nước này tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2015 là 312,7 tỷ euro. Hiện nay, Athens phải đàm phán với EU và IMF để giải quyết số nợ hình thành sau khi giải cứu ngân sách Hy Lạp trước nguy cơ phá sản năm 2010 và 2012.

Thứ trưởng Quốc phòng Hy Lạp Costas Isihos tin rằng, nếu nhân dân nước này chấp thuận các điều kiện từ chủ nợ, Hy Lạp sẽ biến thành một “thuộc địa kinh tế của châu Âu”, bởi “những người cho vay hoàn toàn không quan tâm giúp đỡ thực sự con nợ, chỉ muốn tình hình vốn đã tồi tệ sẽ càng thêm trầm trọng”.

Trưng cầu dân ý: “Cú áp-phe vĩ đại” của Hy Lạp?

Trước đó, Thủ tướng Hy Lạp Alexis Tsipras và Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp Janis Varufakis đã kêu gọi cử tri nói “không” trong cuộc trưng cầu dân ý và tin tưởng rằng quan điểm kiên quyết như vậy của người Hy Lạp sẽ là một bước tiến tới thỏa thuận mới và công bằng hơn với các chủ nợ.

Trả lời phỏng vấn báo Tây Ban Nha “El Mundo”, ông Janis Varufakis nói: "Cho dù kết quả trưng cầu hôm 5-7 ở Hy Lạp như thế nào đi nữa, thỏa thuận sẽ được ký kết với các chủ nợ."

Ông Varufakis cho rằng châu Âu và Hy Lạp đều cần phải đạt được thỏa thuận về trả nợ và cải cách nền kinh tế Hy Lạp. Nhưng theo ông, thỏa thuận sẽ được quyết định bởi kết quả cuộc bỏ phiếu này, nếu kết quả trưng cầu là “có” thì Hy Lạp sẽ được một thỏa thuận không chỉ tồi tệ, mà thực sự khủng khiếp.

Theo ông bộ trưởng, thỏa thuận do các quan chức châu Âu đề xuất là chưa phù hợp, chưa giải quyết xong về các nguồn tài chính cho nền kinh tế nước này. Nó “không mang lại hi vọng cho các doanh nghiệp đầu tư vào Hy Lạp" và không đặt dấu chấm hết cho sự căng thẳng và bất an trong cả nước.

Giới chức lãnh đạo nước này cho rằng, “những người cho vay” không quan tâm tới tái cơ cấu nợ và thúc đẩy phục hồi kinh tế Hy Lạp mà chỉ muốn “siết cổ” đất nước mình. Còn người dân nước này cho rằng, châu Âu đang muốn đất nước Hy Lạp tan hoang, tước đoạt các tài sản và doanh nghiệp của họ.



Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Khủng hoảng nợ Hy Lạp: Câu chuyện hoang đường về người dân tiêu xài quá độ

Tác giả: John Humphrys
Nguồn: Sunday London Times
Nguồn dịch: Nghiên cứu quốc tế

Với lề thói tiêu pha và mức lương hưu trí điên rồ, người dân Hy Lạp đã tự mang đến cuộc khủng hoảng này, đúng không? Không phải. John Humphrys đưa ra những lập luận khách quan bảo vệ một dân tộc mà ông yêu mến và cho rằng họ đã bị phản bội.

Khi tôi còn là một thanh niên trẻ những năm 1950, mỗi sáng Thứ Hai một kịch bản giống hệt nhau đã diễn ra ở các hộ dân lao động như nhà tôi trên khắp quốc đảo này (nước Anh). Khi cha tôi rời khỏi nhà, mẹ tôi lôi nồi nấu nước từ dưới gầm bồn rửa, đổ đầy nước vào và bắt đầu công việc giặt dũ. Một tiếng sau, quần áo được bỏ ra và rũ hoặc bằng tay hoặc bằng máy quay. Sau đó, nếu thời tiết cho phép, quần áo được phơi ra ngoài trời, hoặc được giăng quanh nhà đợi đến khi trời dừng mưa. Một công việc nhà nặng nhọc mà tất cả các bà mẹ đều phải vật lộn cùng với nhiều việc nội trợ khác.

Bạn có thể hỏi điều này thì liên quan gì đến Hy lạp? Thực ra nó liên quan rất nhiều trong bối cảnh Hy Lạp hiện nay.

Cha mẹ tôi và hàng triệu bậc cha mẹ khác đều đã có thể mua một chiếc máy giặt – một trong nhiều đồ gia dụng thay thế sức người đã giải phóng phụ nữ khỏi những công việc nặng nhọc thường làm cho cuộc sống của họ buồn chán, khổ sở.

Họ nghèo, nhưng khi đó dịch vụ thuê mua đã xuất hiện. Máy giặt, máy hút bụi hay tủ lạnh đã có thể được thuê đối với nhiều hộ gia đình. Thay vào đó những người như cha, mẹ tôi đã đợi cho đến khi họ tiết kiệm đủ tiền. Mặc dù điều này có thể mất nhiều năm.

Bạn bị sốc? Đúng vậy, ở một chừng mực nào đó. Mẹ tôi là một phụ nữ thông minh nhưng chưa từng đọc một cuốn sách nào đơn giản là vì bà đã quá bận với năm người con và tất cả các công việc nội trợ. Nhưng những năm sau, khi tôi hỏi bà tại sao lại lãng phí quá nhiều cuộc đời mình cho những công việc nặng nhọc không cần thiết ấy, bà không phàn nàn một lời.

“Mẹ đã được dạy bảo cần phải làm như vậy” bà nói. “Vay mượn là tội lỗi. Nếu không có tiền thì đừng mua, có thế thôi.” Cho đến khi mất bà vẫn coi thẻ tín dụng là sản phẩm của quỷ Sa-tăng, và không chỉ có mình bà.

Giờ hãy xem Hy Lạp vào những năm chuyển giao thế kỷ. Một đất nước trên nhiều phương diện cũng giống như Anh vào những năm 1950. Mọi thứ đã xuống cấp. Họ không có khái niệm gì về chủ nghĩa tiêu dùng. Nếu bạn muốn lắp một chiếc điện thoại tại nhà bạn sẽ phải chờ nhiều tháng. Và thẻ tín dụng không hề được nhắc đến. Thế hệ lớn tuổi không có cảnh nợ nần chồng chất.

Tất cả đã thay đổi kể từ nửa đêm 31/12/1998. Đồng Euro ra đời, Hy Lạp sau đó đã trở thành một phần của khu vực đồng tiền chung và mọi sự vỡ tung ra. Nó giống như kéo một chiếc xe cũ nát lên đỉnh đồi cao, lắp vào một động cơ siêu tốc và lướt xuống đồi với tốc độ mà Jeremy Clarkson (đạo diễn Chương trình giải trí nổi tiếng Anh- Top Gear) cũng phải ghen tỵ. Và sau đó đã quá muộn để nhận ra rằng xe mất phanh.

Nước Anh đã phải mất một hoặc hai thế hệ để học cách sống với thế giới tín dụng mới. Người dân Hy Lạp đã cố gắng thích nghi với nó chỉ qua một đêm và dễ đoán là họ đã thất bại.



Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Trung Quốc cùng Nga tạo liên minh, đánh bại bá quyền Mỹ

Tác giả: Đại Lộ
Nguồn: soha.vn

Đây là đánh giá của chuyên gia phân tích Folker Hellmeyer, nhà kinh tế trưởng tại ngân hàng Đức Bremer Landesbank, về tương lai không còn gì bàn cãi của nền kinh tế toàn cầu.

Trả lời phỏng vấn báo Đức Deutsche Wirtschafts Nachrichten (DWN), ông Hellmeyer nhận định, trục Nga - Trung Quốc - BRICS (nhóm các nền kinh tế mới nổi) gần như chắc chắn sẽ đánh bại bá quyền của Mỹ về kinh tế.

"Sự thật là các quốc gia đang phát triển đang tự tách mình khỏi bá quyền Mỹ.

Điều này đã được thể hiện rõ rằng qua việc trục các quốc gia mới nổi đã thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á AIIB và Ngân hàng Phát triển mới NDB, cạnh tranh với Ngân hàng Thế giới WB và Quỹ Tiền Tệ Thế giới IMF".

Chuyên gia này thẳng thắn thừa nhận: "Với tôi, cuộc đối đầu (giữa Mỹ và Nga) đã được định đoạt. Trục Moscow - Bắc Kinh - BRICS đã chiến thắng. Mỹ đã có quá đủ rồi".

Ông Hellmeyer đã đưa ra những con số thực tế để dẫn chứng cho nhận định của mình. "Sản lượng kinh tế của những quốc gia này những năm 1990 chỉ chiếm 25% tổng sản lượng toàn cầu.

Tới nay, dân số của những quốc gia này chiếm 85% tổng dân số thế giới và sản lượng kinh tế thì đã chiếm tới 56%. Họ kiểm soát khoảng 70% dự trữ ngoại tệ thế giới. Họ phát triển với mức trung bình 4 - 5%/năm".

Về tình thế của EU, ông Hellmeyer cho rằng, liên minh này "đang bị kéo vào cuộc đối đầu do Mỹ gây ra. Bởi Mỹ không muốn chia sẻ quyền lực, và vì thế mà tự triệt đi cơ hội phát triển của mình. EU càng theo đuổi chính sách này thì càng phải trả giá cao".

Trong khi đó, Trung Quốc, Nga và các quốc gia khối BRICS "đang lên kế hoạch cho một dự án phát triển lớn nhất lịch sử hiện đại", bao gồm việc xây dựng cơ sở hạ tầng của Liên minh Á - Âu từ Moscow tới Vladivostok, Nam Trung Quốc và Ấn Độ.

Và như vậy, "các chính sách trừng phạt của Đức và EU sẽ không là động thái khiến cho chỉ Nga phẫn nộ".

Chỉ tính trong hiện tại, trên thực tế, những thiệt hại mà các quốc gia EU đang phải hứng chịu do các lệnh trừng phạt nhằm vào Nga, theo đánh giá của ông Hellmeyer, nhiều hơn các số liệu thống kê.

Cụ thể, về phần Đức, sản lượng xuất khẩu của nước này đã giảm 18% năm 2014, 34% trong 2 tháng đầu năm 2015, và đó "chỉ là phần nổi của tảng băng chìm".

Nhà phân tích Hellmeyer cho rằng, các quốc gia châu Âu có quan hệ về kinh tế lớn mạnh với Nga như Phần Lan hay Bỉ, đã giảm bớt hoạt động của họ ở Đức.

"Các tập đoàn châu Âu trốn tránh lệnh trừng phạt và thiết lập các cơ sở sản xuất hiệu quả cao ở Nga. Vì thế, chúng ta (Đức) đã mất đi nguồn vốn tiềm năng - vốn là nền tảng cho sự thịnh vượng của Đức. Và Nga đã thắng".

Khi được hỏi về những thiệt hại mà EU phải gánh chịu khi theo đuổi các chính sách cứng rắn với Nga, ông Hellmeyer khẳng định, "không thể định lượng được những thiệt hại trong tương lai, nhưng nó khá lớn", và người "phải trá giá" cuối cùng sẽ là người dân EU.

Đáng chú ý, chuyên gia kinh tế người Đức cho rằng, "không có Nga và Trung Quốc, sẽ không thể giải quyết được bất cứ vấn đề nào trên thế giới.

Mỹ đang thực dụng hơn những gì chúng ta có thể tượng tượng ra. Và việc không có chương trình nghị sự riêng sẽ khiến Đức và EU là những kẻ thua cuộc".

Xem thêm:



Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Lý do kinh tế đằng sau xung đột Hoa Kỳ - Trung Quốc

Tác giả: Bart Gruzalski
Nguồn: CounterPunch
Nguồn dịch: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

Lời giới thiệu từ người dịch:

Những ngày này, báo chí dân túy Việt Nam đang ca tụng việc Hoa Kỳ can thiệp vào những tranh chấp trên biển Đông, bằng việc dùng tàu chiến để khiêu khích Trung Quốc ở phạm vi 12 hải lý (một trò đùa lố lăng), sau khi cố gắng bao vây Trung Quốc bằng một chuỗi căn cứ quân sự trên lãnh thổ các nước chư hầu trong khu vực. Nhưng những người Việt Nam còn tỉnh táo thì sẽ hiểu rằng Hoa Kỳ không can thiệp vào biển Đông vì quyền lợi của Việt Nam hay lợi ích của tự do lưu thông trên biển Đông, lý do thực sự là Hoa Kỳ đang muốn kiềm chế Trung Quốc, không để Trung Quốc trở thành kẻ lật đổ sự thống trị toàn cầu của họ. Người Việt Nam có lương tri hiểu rằng sự nhầm lẫn trong việc nhận định mục đích thực sự của Hoa Kỳ, hay nói cách khác là ảo tưởng ở sự can thiệp của Hoa Kỳ, sẽ khiến đất nước của chúng ta phải trả một cái giá rất đắt.

Xin mời bạn đọc theo dõi bản dịch bài viết dưới đây của giáo sư đại học ở Boston Bart Gruzalshi để hiểu thêm chi tiết về mục đích của Hoa Kỳ trong việc khiêu khích Trung Quốc trên biển Đông. Tác giả nói về việc Hoa Kỳ lo sợ đồng dollar của họ đánh mất vị thế thống trị thương mại thế giới, nhưng chúng ta phải hiểu rằng các ngân hàng Hoa Kỳ đang cung cấp đồng dollar cho thanh toán quốc tế, vì vậy việc đồng dollar bị loại bỏ đe dọa trực tiếp đến lợi nhuận của các ngân hàng Hoa Kỳ, giai cấp tư sản Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai dám làm điều đó.

Có nhiều lý do khiến Hoa Kỳ dồn ép Trung Quốc trên Biển Đông. Hai bài báo đăng trên Counterpunch trong những tuần qua đã tìm hiểu các lý do ấy. Nhưng không có bài báo nào đề cập tới lý do kinh tế quan trọng, cho dù chỉ là một phần, đã thúc đẩy Hoa Kỳ lao vào cuộc chiến và đóng vai trò quan trọng trong sự tranh chấp gia tăng với Trung Quốc: giá trị của đồng dollar.

Sự thống trị của đồng dollar trong thương mại thế giới là rất quan trọng đối với giá trị của nó và đối với kinh tế Hoa Kỳ. Sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ chế độ bản vị vàng, họ đã ký một thỏa thuận chắc chắn với Saudi Arabia và tất cả các nước OPEC ở Trung Đông để buộc các nước này phải mua bán dầu bằng đồng dollar. Do thỏa thuận này mà đồng dollar còn thường được gọi là “dollar dầu lửa”. Giá trị của dollar/dollar dầu lửa dựa trên năng lực thanh toán thương mại quốc tế của nó, không chỉ là đối với dầu lửa mà còn là vũ khí, thực phẩm cũng như mọi thứ khác.

Hai cuộc chiến dollar

Như tôi đã thảo luận trong một bài báo trên Counterpunch vào năm 2013, lý do khiến Bush II xâm lược Iraq là bởi vì Iraq đã đe dọa Hoa Kỳ bằng việc mua bán dầu với đồng Euro. Nếu Saddam Hussein được phép tiếp tục, điều này sẽ là sự thách thức chủ yếu đối với sự thống trị của đồng dollar trong vai trò đồng tiền dự trữ của thế giới. Đồng euro dầu lửa có thể thay thế đồng dollar dầu lửa. Điều này có thể làm suy yếu giá trị của đồng dollar và phá hủy nền kinh tế Hoa Kỳ. Đây chính là lý do bị lảng tránh của việc lật đổ Saddam Hussein. Giá trị của đồng dollar đóng vai trò như là sức khỏe của nền kinh tế Hoa Kỳ. Cuộc chiến tranh Iraq thức hai đã loại bỏ nguy cơ này và dầu của Iraq lại được mua bán bằng đồng dollar.



Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Con tàu Titanic Phương Tây bắt đầu chìm

Tàu Titanic đang chìm

Nguồn: politobzor.net
Nguồn dịch: Kichbu Blog

"Hệ thống các giá trị Mỹ" bị một đòn đánh mới. Iran đã từ chối sử dụng đồng dollar Mỹ trong thanh toán với nước ngoài. Theo phó giám đốc Ngân hàng Trung ương của Iran Ali Goliama Kamyaba tuyên bố, từ nay khi ký kết hợp đồng với các nước, Iran sẽ sử dụng các đồng tiền khác. Đó, đặc biệt, sẽ là nhân dân tệ, euro, lira Thổ Nhĩ Kỳ, ruble Nga và won của Hàn Quốc. Nước xuất khẩu dầu lớn thứ tư trên thế giới và lớn nhất vào Trung Quốc... Chính phủ Iran đã thông báo rằng đang áp dụng các biện pháp phòng trường hợp Hoa Kỳ tăng cường các lệnh trừng phạt. Đằng sau tất cả điều này hoàn toàn có thể nhìn thấy rõ "những cái tai" của các cuộc đàm phán và thỏa thuận Nga-Iran gần đây...

Ngoài sự kiện quan trọng như vậy, lợi ích của Hoa Kỳ cũng đã bị thêm một cú đánh ở khu vực Trung Đông. Đó dĩ nhiên là nói về Yemen. Một chính phủ hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Saudi Arabia, và tiếp theo của Washington, đã nhanh chóng thất bại trong cuộc chiến giành quyền lực! Đại diện của phong trào "Ansar Allah" (phiến quân người Shiite, Housit) đã thành công trong cuộc đảo chính hầu như không đổ máu. Mặc cho những khẩu hiệu tôn giáo, trước hết, cuộc đảo chính nhằm chống lại Saudi Arabia. Mặc dù giá trị trực tiếp của Yemen trên thị trường dầu là không lớn, cần thấy rằng ở đó có những lối ra Ấn Độ Dương thuận lợi đối với người Saudi... Những lợi ích của Hoa Kỳ đang đòi hỏi chính phủ thân Saudi Ẩbia ở Yemen, nhưng những người nổi dậy đã thực hiện thêm một biện pháp quan trọng nữa, họ không cho phép chính quyền hiện hành từ chức, đồng thời đã kiểm soát được nó. Điều này sẽ không cho phép Hoa Kỳ hoặc Saudi Arabia nhanh chóng tiến hành "hoạt động thân dân chủ" trong khu vực. Và bất kỳ "các hoạt động đặc biệt" nào nhằm phá hoại từ bên trong sẽ cần đến không ít thời gian.

Điều này có nghĩa là gì?! Tiếp cận dầu mỏ của Ả Rập sẽ bị giới hạn ở thị trường châu Á, nơi bạn hàng chính yếu là Trung Quốc. Trong hai năm qua, Saudi Arabia đã dần bị mất thị phần trên thị trường Trung Quốc có lợi cho Nga. Bây giờ sẽ còn mất nhiều hơn nữa ... Nếu so sánh điều này với quyết định của Iran và tăng lượng cung cấp của Nga, thì chúng ta sẽ thấy xuất hiện trước mặt mình một thị trường sản phẩm dầu mỏ to lớn, nơi đơn vị thanh toán không phải là đồng dollar! Cần phải tính đến cả các nhà khai thác dầu mỏ Nam Mỹ. Họ cũng đã từ chối thanh toán bằng dollar. Rồi Châu Âu sẽ không duy trì được bao lâu. Có lẽ trong năm nay Nga sẽ yêu cầu EU thanh toán dầu và khí đốt bằng tiền tệ khác chứ không phải dollar Mỹ. Trong thời gian tương đối ngắn, dòng chảy của đồng dollar dầu mỏ đã giảm sút nghiêm trọng và sẽ còn chỉ giảm hơn nữa. Đây và cũng là những động thái của Nga mà các chuyên gia kinh tế dùng để đe dọa phương Tây!

Nhiều người nghĩ rằng việc chuyển đổi từ thanh toán bằng dollar như một sự kiện tức thời: "Hôm nay Putin đã phát biểu trên truyền hình, còn ngày mai các nhà tài phiệt Mỹ sẽ nhảy ra từ các cửa sổ"... Dĩ nhiên, các nhà kinh tế Mỹ sẽ không đơn giản đứng nhìn sự sụp đổ nền kinh tế họ! Và quá trình này không chỉ là một khoảnh khắc, mà còn không thể đảo ngược. Đúng là hiện nay ngày càng ít phụ thuộc hơn vào Hoa Kỳ, mà phụ thuộc vào Nga ngày càng nhiều hơn. Điều này đã trở nên có thể do lập trường mang tính nguyên tắc của Nga. Nếu Hoa Kỳ tiến hành chính sách kinh tế của họ dựa trên lợi ích riêng của mình, và tích cực truyền bá quan điểm của họ ở khắp mọi nơi, thì Nga đã chọn con đường quan hệ hợp tác. Không cần phải hiểu điều này như là trên thị trường có "một Rasseya hiền lành" hoặc "một nước Nga rất đạo đức" nào đó. Không! Việc thanh toán lạnh lùng và rất thực dụng - "chúng tôi sẽ chia sẻ một phần lợi nhuận của ngày hôm nay, vì chiến thắng chắc chắn vào ngày mai"...

Những nỗ lực áp đặt Nga bằng các lệnh trừng phạt, trò chơi dầu mỏ và phá giá tiền tệ đã không thành công. Hóa ra nguồn dự trữ an toàn là rất lớn. Những "quỹ bình ổn" nhất mà "các chuyên gia độc lập" chế nhạo, gọi chúng là "cái bùng binh của những kẻ bất tài vô dụng trong nền kinh tế của ban lãnh đạo Nga đã trở nên một bảo đảm thắng lợi kinh tế của Nga. Các biện pháp trừng phạt của Châu Âu, trong tình huống này, đã bị biến từ một phương tiện kỳ vọng gây áp lực đối với LB Nga thành công cụ đe dọa chính trị và kinh tế đối với Liên minh Châu Âu.



Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Phương Tây trừng phạt kinh tế Nga càng mạnh, đòn bật boomerang sẽ càng đau hơn

Nguồn: Tiếng nói Nước Nga

Những động cơ chính trị đang đem lại thiệt hại kinh tế. Bên gánh chịu tổn thất bao gồm cả Moskva lẫn Brussels và đặc biệt là Kiev.

Không những thế, mỗi tháng trôi qua mất mát lại càng nhiều hơn. Theo các chuyên gia, thì đây chính là mục tiêu của Washington. Những hạn chế nhằm vào Nga lại không tác động mấy tới Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khó thể nói như vậy về các doanh nghiệp châu Âu và nền kinh tế Ukraina.

Theo tính toán sơ bộ, ngân sách của chính quyền Kiev năm 2014 đã mất mát khoảng 10 tỷ USD. Châu Âu thì thấp thỏm e ngại với sự xuất hiện đối xứng của những "thiên nga đen" mới. Đây là thuật ngữ mà quan chức phương Tây ám chỉ các động thái chiến lược của Nga nhưng tạo ra hoàn cảnh bất lợi cho EU. Hiện giờ, đó là lệnh cấm nhập khẩu lương thực từ các nước EU và từ chối dự án Dòng chảy phương Nam. Liệu tiếp theo sẽ là gì?

Mọi cái sẽ chỉ càng tồi tệ hơn nếu tiếp tục cuộc chiến trừng phạt. Các chính trị gia và doanh nhân EU nhận thức rất rõ điều này. Ở phương Tây ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng đã tới lúc phải chấm dứt sự đối đầu. Trong đó gần đây nhất là tuyên bố của Tổng thống Áo Heinz Fischer. Theo ông, áp đặt biện pháp trừng phạt mới chống Nga sẽ là quyết định ngu xuẩn và tai hại. Phó Chủ nhiệm Khoa Kinh tế và chính trị thế giới Trường Cao học Kinh tế Nga Igor Kovalyov đồng tình với quan điểm này. Ông Kovalyov đã nêu khả năng cùng gỡ bỏ các hạn chế:

“Mỗi tháng trôi qua, thậm chí mỗi ngày, hậu quả tác động càng rõ rệt hơn. Bởi khối lượng trao đổi thương mại, sự ràng buộc liên lạc và hợp tác lẫn nhau rất lớn. Lệnh trừng phạt không bao giờ mang tính một chiều. Chúng luôn đánh vào cả đối tượng bị cấm vận lẫn những người áp đặt. Một ví dụ điển hình có thể thấy là quan hệ Mỹ - Cuba. Sau nhiều thập kỷ Hoa Kỳ tiến hành chiến tranh cấm vận với kẻ thù dường như là không đội trời chung của mình, nhưng rồi cùng tới lúc Washington và Havana thấy cần thông qua quyết định thiết lập quan hệ. Đối với EU và Nga, tôi nghĩ đó là vấn đề của vài tháng. Không thể sớm rút lui các biện pháp trừng phạt, cần một thời gian nhất định.”

Chủ đề dỡ bỏ lệnh trừng phạt chưa được đưa vào chương trình nghị sự của Brussels. Tuy nhiên, mọi cái đang dẫn tới điều này, - các nhà phân tích nhận định. Hầu như ngày nào, Ủy ban châu Âu cũng nhận được báo cáo từ các nước về tổn thất được qui thành tiền do cuộc đối đầu chính trị với Nga gây nên. Ví dụ, Rome đã ước tính 13% tổn thất từ giảm trao đổi thương mại với Nga trong năm 2014 và có thể tới 17% trong năm 2015. Con số này không phải vài triệu mà là hàng tỷ euro. Đối với nền kinh tế đang ốm yếu của Ý, những thiệt hại như vậy thật khó thể tha thứ. Đáp lại thực tế, Bộ trưởng Ngoại giao Liên minh châu Âu Federica Magerini chỉ biết lắc đầu và phát biểu rằng, đối với Brussels điều quan trọng lúc này là kết quả chính trị từ các biện pháp trừng phạt, kinh tế chưa cần tính tới. Sự can đảm liệu có đủ lâu? Thật khó chắc chắn.

Trong bối cảnh này, càng khó thể hiểu nỗ lực nối gót bạn bè của Ukraina, đất nước với nền kinh tế đang bị lung lay, - giáo sư Alexander Mikhailenko Bộ môn Hoạt động đối ngoại của Nga thuộc Khoa An ninh quốc gia Học viện Kinh tế và hành chính chia sẻ suy nghĩ như sau:

“Vì sao Ukraina ràng buộc rất nhiều vào mối quan hệ với Nga? Họ bán cho Nga một phần đáng kể các sản phẩm toa xe - 70% khối lượng sản xuất, các đầu tầu. Giờ đây tất cả sẽ bị chìm vào dĩ vãng. Rồi động cơ máy bay từ nhà máy Motor Sich. Nhiều kết cấu kim loại khác nhau từng được Ukraina bán cho Nga. Các hợp đồng trao lớn sẽ bị khép lại.”

Trong số nạn nhân còn phải kể đến nhiều hãng quốc tế. Ví dụ, Exxon Mobil (Mỹ), BP (Anh), Siemens, Bosch (Đức) và v.v... Đối với các doanh nghiệp lớn, thực tế không chỉ là sự thua lỗ trong vài tháng mà kéo theo những tổn thất tiềm năng của vài năm tới. Loạt chiến lược kinh tế dựa trên các hợp đồng dài hạn đã bị phá vỡ. Không dễ gì lấy lại những cơ hội bị bở lỡ, bởi người Trung Quốc thực tế đang nhảy vào thế chân họ.



Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015

Không có lý do gì để phản đối kết toán trực tiếp bằng nhân dân tệ giữa VN và TQ

Nhân dân tệ

Nguồn: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

Báo chí dân túy đang ồn ào phản đối đề nghị của Trung Quốc về việc thanh toán trực tiếp bằng đồng nhân dân tệ (NDT) ở Việt Nam. Muốn mà rõ vấn đề này, trước hết cần phải hiểu đề nghị thanh toán trực tiếp bằng nhân dân tệ của Trung Quốc nghĩa là gì. Thứ mà phía Trung Quốc đề nghị là settlement (kết toán) trong thương mại quốc tế chứ không phải payment (thanh toán) trong mua bán hàng ngày như ông Nguyễn Đăng Doanh hùng hồn phát biểu trên tờ Một Thế Giới. Điều này không ảnh hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam hết.

Thanh toán quốc tế rất phức tạp nhưng có thể hình dung qua một ví dụ đơn giản như sau. Một doanh nghiệp A ở Việt Nam bán hàng cho một doanh nghiệp B ở Trung Quốc. Vậy đồng tiền nào sẽ được đùng để thanh toán? Trước kia người ta dùng đồng USD (được gọi là ngoại tệ mạnh), tức là giá cả sẽ được quy đổi ra USD. Sau đó doanh nghiệp B ở Trung Quốc sẽ mua USD chuyển cho doanh nghiệp A ở Việt Nam, doanh nghiệp A sẽ bán USD để lấy VNĐ. Ngược lại nếu doanh nghiệp A (VN) mua hàng của doanh nghiệp B (TQ) thì cũng phải mua đồng USD rồi chuyển cho doanh nghiệp B. Tất nhiên là các doanh nghiệp không thể tự mình làm tất cả những việc phức tạp đó mà họ ủy quyền cho các ngân hàng làm. Tức là A sẽ ủy quyền cho một ngân hàng VN làm trung gian thanh toán, B cũng ủy quyền cho một ngân hàng TQ làm trung gian thanh toán. Hai ngân hàng VN và TQ sẽ thanh toán với nhau bằng đồng USD.

Khi doanh nghiệp VN buôn bán với doanh nghiệp Mỹ thì họ không cần phải chuyển đổi qua một ngoại tệ khác, vì chính đồng USD của Mỹ đã là ngoại tệ mạnh. Điều này có nghĩa là ngân hàng Việt Nam và ngân hàng Mỹ thanh toán trực tiếp bằng đồng USD của Mỹ. Điều ngạc nhiên là không có chuyên gia kinh tế dân tộc chủ nghĩa nào kêu la về việc mất chủ quyền hay nguy cơ nào khác trong trường hợp này.

Đồng tiền của một quốc gia được sử dụng phổ biến trong thương mại quốc tế là do sức mạnh kinh tế của quốc gia đó tạo ra. Trước kia có đồng USD, rồi đồng Euro, bây giờ tới đồng NDT của TQ. Nền kinh tế của TQ càng phát triển thì thương mại của họ càng trở nên phổ biến khắp nơi và đồng tiền của họ càng được chấp nhận một cách rộng rãi. Mới năm ngoái, nước Đức đã chấp nhận kết toán trực tiếp bằng đồng NDT.

Khi đồng NDT được chấp nhận thanh toán trực tiếp, có nghĩa là ngân hàng VN sẽ giao dịch với ngân hàng TQ bằng đồng NDT. Thay vì ngân hàng TQ phải mua đồng USD để chuyển cho ngân hàng VN thì giờ họ có thể chuyển thẳng NDT cho ngân hàng VN. Phía ngân hàng VN cũng thanh toán bằng NDT cho ngân hàng TQ khi đại diện cho doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ TQ. Tất nhiên để làm được tất cả những việc đó thì TQ phải thiết lập một dịch vụ trung gian thanh toán cho các ngân hàng TQ và VN, đảm bảo cung cấp đủ VNĐ và NDT cho các ngân hàng tham gia hệ thống (hình dung đơn giản: họ làm việc giống như quầy đổi tiền). Đây chính là lý do ngân hàng công thương TQ đề nghị hợp tác với ngân hàng thương mại VN (như BIDV) để phát triển dịch vụ này.

Sự phát triển trong việc thanh toán bằng đồng NDT là một tất yếu của sự phát triển kinh tế. Thương mại giữa VN và TQ phát triển nhanh hơn khả năng cung cấp đồng USD của nền kinh tế VN. Do vậy nếu thanh toán theo kiểu cũ, thông qua đồng USD thì tình trạng tắc nghẽn trong thanh toán do thiếu USD đã cản trở sự phát triển thương mại giữa hai nước. Chính vì lý do đó ở khu vực biên giới đã phát sinh ra các cơ sở phi chính thức làm công việc trung gian thanh toán trực tiếp bằng đồng NDT giữa doanh nghiệp VN và doanh nghiệp TQ. Một mặt điều này tạo ra sự thanh toán nhanh chóng với chi phí thấp trong thương mại biên giới, mặt khác điều đó cũng tạo ra các gánh nặng quản lý cho cả phía TQ và VN do nằm ngoài hệ thống chính thức và nằm ngoài pháp luật. Phía TQ cho là tổng trị giá của các giao dịch đó đã lên đến 15 tỷ USD, tức là tác động đáng kể đến hệ thống tiền tệ của cả hai nước và cần phải hợp pháp hóa việc kết toán trực tiếp bằng NDT để xóa bỏ tình trạng đó.



Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Nga tiếp tục thành công bất chấp vòng vây của phương Tây

Tên lửa đạn đạo liên lục địa SS-18 Satan
Tên lửa đạn đạo liên lục địa SS-18 Satan

Nguồn: Báo Đất Việt

Chính sách bao vây của phương Tây không phải là vấn đề với ngành công nghiệp quốc phòng Nga, bởi Moskva vẫn liên tiếp thành công khi vòng vây ngày càng chặt.

Vũ khí cực khủng

Theo nguồn tin từ Lực lượng tên lửa chiến lược Nga ngày 25/12 cho biết, Moskva sẽ triển khai các hệ thống tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) hạng nặng triển khai dưới hầm mang tên Sarmat tại khu vực Orenburg và vùng lãnh thổ Krasnoyarsk.

"Theo kế hoạch của chúng tôi, mọi thứ đã được quyết định. Loại tên lửa hạng nặng mới này sẽ được triển khai tại Uzhur ở vùng lãnh thổ Krasnoyarsk (miền trung nước Nga) và tại làng Dombarovsky ở khu vực Oregnburg (ở miền nam)", Đại tướng Sergei Karakayev cho biết khi trả lời truyền thông Nga.

Hiện tại, các khu vực này đang được triển khai các đơn vị của lực lượng tên lửa chiến lược, được trang bị các tổ hợp tên lửa đạn đạo liên lục địa R-36M2 Voevoda (NATO và Mỹ gọi là SS-18 Satan). Làng Uzhur-4 ở khu vực Krasnoyarsk là sở chỉ huy của sư đoàn tên lửa số 62 và sư đoàn tên lửa số 13-I được đặt tại thành phố Clear ở khu vực Orenburg.

Theo những thông tin ít ỏi về loại tên lửa này, hồi tháng 12/2013, tư lệnh Lực lượng tên lửa chiến lược Nga cho biết tên lửa Sarmat dự kiến sẽ được trang bị các hệ thống đối phó điện tử tiên tiến, một hệ thống chỉ huy và kiểm soát phức hợp và có khả năng cơ động cao, cho phép nó thâm nhập được vào các hệ thống phòng thủ tên lửa của đối phương.

Sarmat có trọng lượng khoảng 100 tấn, có tầm bắn không dưới 5.500 km đang được Nga phát triển để thay thế dòng tên lửa đạn đạo liên lục địa SS-18 Satan hiện đang được biên chế trong quân đội vào các năm 2018 đến 2020.

Tên lửa được mệnh danh là 'Quỷ Sa tăng' này có khả năng thâm nhập vào bất kỳ hệ thống phòng thủ tên lửa và trở thành một trong những vũ khí huyền thoại của thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Ưu điểm chính của SS-18 Satan là nó có trọng lượng khủng khiếp lên tới 211 tấn, có thể mang theo đầu đạn nặng tới gần 9 tấn. Đầu đạn này nặng hơn 2 lần so với tên lửa đạn đạo liên lục địa mạnh nhất của Mỹ. Không những thế, nó còn có tầm bắn vô địch 16.000km.

Tuy nhiên, SS-18 Satan có nhược điểm là nó chỉ được phóng đi từ bệ phóng cố định. Trong thời đại hiện nay, yếu tố này làm giảm khả năng sống sót của hệ thống tên lửa.

Giám đốc của Trung tâm nghiên cứu xã hội và chính trị Vladimir Yevseyev cho biết: 'Thời kỳ của tên lửa hạng nặng đã đi qua. Bây giờ chúng ta cần phải phát triển các tên lửa mới với khối lượng nhỏ hơn và do đó khối lượng đầu đạn hạt nhân cũng sẽ nhỏ hơn'.

Đó chính là lý do Voyevoda sẽ được thay thế bằng một hệ thống tên lửa đạn đạo siêu việt mới mang tên Sarmat.



Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Việt Nam sắp tham gia khu vực thương mại tự do với Liên minh Hải quan

Lễ ký kết đàm phán Khu vực tự do thương mại giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan

Nguồn: Tiếng nói Nước Nga

Ba nước thành viên Liên minh Hải quan - Nga, Belarus, Kazakhstan - và Việt Nam vừa kết thúc cuộc đàm phán về dự thảo thỏa thuận thành lập Khu vực thương mại tự do.

Xin nhắc lại rằng, Việt Nam đã hướng tới Liên minh Hải quan đề nghị thành lập khu vực thương mại tự do chung. Các cuộc tham vấn đã kéo dài mấy năm, nhóm chuyên gia của hai nước đã nghiên cứu tính khả thi của việc thành lập một khu vực như vậy và đã đi đến kết luận rằng, nhờ khu vực thương mại tự do, đến năm 2020, khối lượng trao đổi hàng hóa giữa ba nước thành viên Liên minh Hải quan và Việt Nam có thể tăng gấp mấy lần so với mức hiện nay. Các nước Liên minh Hải quan có thể mở rộng đáng kể sự hỗ trợ cho Việt Nam để nước này thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế, đặc biệt trong việc thành lập cơ sở năng lượng, cơ sở hạ tầng, trong ngành giao thông, trong việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Khu vực thương mại tự do là hình thức mới về nguyên tắc của hội nhập quốc tế, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng, mở rộng và tăng cường quan hệ đầu tư. Trong khu vực thương mại tự do, các bên được dành ưu đãi thuế quan, giảm sự chậm trễ và chi phí của lưu thông hàng hóa, giảm thiểu thủ tục giấy tờ mà bây giờ gây trở ngại cho sự hợp tác kinh tế và thương mại.Và qua đó tạo cơ hội cho sự cạnh tranh tự do trên thị trường hàng hóa và dịch vụ.

Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã lưu ý đến tính cấp bách của dự án này, nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với thương mại và quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan: “Tôi nghĩ rằng, sau khi ký kết Hiệp định thương mại tự do, quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan sẽ thay đổi đáng kể. Góp phần vào điều đó là thực tế rằng, các nền kinh tế của chúng tôi bổ sung cho nhau, không cạnh tranh với nhau. Việt Nam có tiềm năng to lớn trong ngành công nghiệp nhẹ, trong ngành đánh bắt cá, trong lĩnh vực nông nghiệp. Các nước thuộc Liên minh Hải quan phát triển thành công công nghiệp nặng và công nghệ cao. Hiệp định về Khu vực thương mại tự do sẽ thúc đẩy sự hợp tác trong các lĩnh vực như năng lượng, giáo dục và khoa học, cũng như công nghệ cao”.

Không có chế độ vạn năng cho các khu vực thương mại tự do. Đó là chủ đề cuộc đàm phán giữa các bên hữu quan. Trong hai năm qua, các nước thuộc Liên minh Hải quan và Việt Nam đã tiến hành cuộc đàm phán về nội dung này. Đúng như dự định, cuộc đàm phán đã kết thúc vào giữa tháng mười hai này. Cố vấn của Bộ phát triển kinh tế Nga Yulia Shestopyorova cho biết: “Cuộc đàm phán đã tiến hành khá thành công. Bây giờ chỉ còn lại số lượng tối thiểu các vấn đề kỹ thuật chưa được thỏa thuận. Trong khi đó, cả hai bên đều chủ trương giải quyết những vấn đề đó trong mấy tháng đầu năm 2015, để trong năm tới có thể ký kết thỏa thuận”.

Trong số các vấn đề chưa được giải quyết là điều kiện tự do hóa thuế quan. Đó là biểu thuế xuất khẩu theo danh mục nhóm hàng mà thuế giảm đi và nhóm hàng không chịu thuế. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với khu vực thương mại tự do tương lai. Bởi vì việc giảm thuế hoặc áp dụng mức thuế “0” sẽ dẫn đến giảm chi phí và giá thành hàng hóa. Cố vấn của Bộ phát triển kinh tế Nga Yulia Shestopyorova nói tiếp:

“Như vậy có nghĩa là, đối với hàng hóa Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn so với các sản phẩm tương tự từ các nước khác không tham gia khu vực thương mại tự do. Kết quả là, Việt Nam sẽ có thể tăng xuất khẩu sang Liên minh Hải quan, cạnh tranh thành công với các đối thủ nước ngoài không có lợi thế như vậy”.

Theo đại diện của Bộ Phát triển Kinh tế Nga, hiện nay chưa thể nói lên ngày tháng cụ thể trong năm 2015 khi Liên minh Hải quan và Việt Nam sẽ ký kết hiệp định về thành lập khu vực thương mại tự do. Bà Shestopyorova cho rằng, có lẽ sự kiện này sẽ diễn ra vào cuối quý đầu hoặc vào đầu quý thứ hai.

Nhận xét: Sẽ là rất tốt cho Việt Nam khi hiệp định này được ký kết. Trên thực tế, Việt Nam càng tránh xa con tàu đang chìm là mô hình kinh tế bóc lột dựa vào đồng đôla Mỹ của phương Tây bao nhiều thì càng tốt bấy nhiêu. Tương lai của Việt Nam gắn liền với khối liên minh Á-Âu dẫn đầu bởi Nga và Trung Quốc.



Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Cuộc chiến tranh tuyên truyền và kinh tế của Hoa Kỳ chống lại Nga

Chiến tranh Nga Mỹ
Nga muốn chiến tranh. Hãy xem họ đặt đất nước của họ gần các căn cứ quân sự Mỹ đến mức nào!

Tác giả: Diana Johnstone
Nguồn: CounterPunch
Nguồn dịch: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

Hơn một năm qua, Hoa Kỳ đã triển khai kịch bản được thiết kế để (1) tái lập sự kiểm soát của Hoa Kỳ đối với Châu Âu bằng cách ngăn chặn Châu Âu giao thương với Nga, (2) làm phá sản Nga, (3) lật đổ Vladimir Putin và thay thế ông ta bằng một tay sai của Hoa Kỳ, giống như kẻ say sưa Boris Yeltsin trước đây.

Những ngày qua đã cho thấy rất rõ sự xảo trá kinh tế trong cuộc chiến của Hoa Kỳ chống lại Nga.

Tất cả bắt đầu ở hội nghị quốc tế cấp cao quan trọng về tương lai của Ukraina được tổ chức ở Yalta vào tháng 12 năm 2013, tại đó chủ đề chính là cuộc cách mạng khí đá phiến mà Hoa Kỳ hy vọng có thể sử dụng để làm suy yếu Nga. Cựu bộ trưởng năng lượng Hoa Kỳ Bill Richardson ở đó để đưa ra lời chào mời, được Bill và Hillary Clinton hoan nghênh. Washington hy vọng sử dụng kỹ thuật fracking để tạo ra nguồn năng lượng thay thế cho khí đốt tự nhiên, loại Nga ra khỏi thị trường. Lời chào mời đó với châu Âu cũng giống như là treo đầu dê bán thịt chó vậy.

Nhưng cú lừa đó không thể hoàn thành dựa trên nguyên tắc “thị trường” bất khả xâm phạm, do fracking tốn kém hơn việc chiết xuất khí đốt của Nga nhiều. Một cuộc khủng hoảng lớn trở nên cần thiết để bóp méo thị trường bằng sức ép chính trị. Với cuộc đảo chính ngày 22 tháng 2, do Victoria Nuland dàn xếp, Hoa Kỳ trên thực tế đã giành quyền kiểm soát Ukraina, đưa tay chân “Yats” (Arseniy Yatsenyuk) lên nắm quyền, người này ủng hộ việc gia nhập NATO. Mối đe dọa trực tiếp đối với căn cứ hải quân của Nga ở Crimea đã dẫn tới cuộc trưng cầu dân ý sáp nhập một cách hòa bình bán đảo trong lịch sử vốn dĩ của Nga trở lại Nga. Nhưng dàn đồng ca của Hoa Kỳ lên án việc sáp nhập hòa bình bán đảo Crimea là “cuộc xâm lược quân sự của Nga”. Động thái phòng vệ đó được NATO loan báo là bằng chứng của việc Putin có ý đồ xâm lược các quốc gia láng giềng của Nga ở Đông Âu bất kể lý do.

Cùng lúc đó, cuộc xâm lược kinh tế của Hoa Kỳ lặng lẽ triển khai.

Ukraina là một trong những nguồn dự trữ khí đá phiến lớn nhất ở Châu Âu. Giống như các quốc gia Châu Âu khác, người Ukraina đã biểu tình chống lại các tác động tổn hại môi trường của việc fracking trên quê hương của họ, nhưng không giống các quốc gia khác, Ukraina không có luật cấm. Chevron đã tham gia.

Vào tháng 5 vừa qua, R. Hunter Biden, con trai của phó tổng thống Hoa Kỳ, trở thành thành viên trong ban giám đốc của Burisma Holdings, nhà cung cấp khí đốt tư nhân lớn nhất của Ukraina. Biden trẻ chịu trách nhiệm về bộ phận pháp lý của Holdings và đóng góp vào “sự mở rộng quốc tế” của công ty.

Ukraina có đất canh tác màu mỡ cùng dự trữ dầu đá phiến. Người khổng lồ nông nghiệp Cargill của Hoa Kỳ đã đặc biệt tích cực ở Ukraina, đầu tư vào kho chứa ngũ cốc, thức ăn gia súc, nhà cung cấp trứng và hãng kinh doanh nông nghiệp chủ chốt, Ukr Land Farming, cũng như cảng tại Novorossiysk ở Biển Đen. Hội Đồng Kinh Doanh Hoa Kỳ-Ukraina cũng rất tích cực với sự có mặt của Monsanto, John Deere, nhà chế tạo nông cụ CNH Industrial, DuPont Pioneer, Eli Lilly & Company. Monsanto dự định xây dựng một “nhà máy hạt giống ngũ cốc không biến đổi gen” trị giá 140 triệu dollar ở Ukraina, rõ ràng là nhắm tới thị trường e ngại hạt giống biến đổi gen (GMO) của Châu Âu. Trong bài phát biểu tại hội nghị của Hội Đồng Kinh Doanh Hoa Kỳ-Ukraina do Chevron tài trợ một năm trước đây, Victoria Nuland đề cập tới việc Hoa Kỳ đã chi 5 tỷ dollar trong hai mươi năm qua để giành được Ukraina.



Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

Đừng hỏi Mỹ có thể bao vây Trung Quốc không, hãy hỏi Trung Quốc có thể bao vây Mỹ không

Trung Quốc đối đầu với Mỹ

Tác giả: John V. Walsh
Nguồn: Antiwar.com
Nguồn dịch: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

“Mỹ có thể bao vây Trung Quốc không?”, đó là câu hỏi thường xuyên được đặt ra ở Phương Tây. Nhưng với những cuộc chiến tranh và tấn công bất tận của Mỹ vào các quốc gia đang phát triển trên thế giới, câu hỏi nên được đổi lại thành “Trung Quốc có thể bao vây Mỹ không?”. Hay ít nhất là Trung Quốc có thể kiềm chế Mỹ để không gây tổn hại nhiều hơn cho khu vực Đông Á và các nước khác trong thế giới đang phát triển?

Tuần trước Obama tới Bắc Kinh dự hội nghị thượng đỉnh Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) trong vai trò đại diện của Phương Tây và đại dự án có tuổi đời hàng thế kỷ của họ ở Đông Án. Đó là dự án gì? Lịch sử cho chúng ta biết rằng Phương Tây cùng với các nhà truyền giáo và binh lính của họ, những người tiền nhiệm của Obama, đã dìm khu vực này trong đau khổ và bể máu. Một danh sách ngắn và chưa đầy đủ gồm có: Chiến Tranh Thuốc Phiện ở Trung Quốc, chiến tranh ở Philippine, ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên, ném bom tàn phá Lào và Campuchia, đảo chính đẫm máu của CIA ở Indonesia, tấn công quân sự vào phong trào lật đổ chế độ độc tài Park ở Hàn Quốc.

Phác thảo lịch sử ngắn ấy chỉ đơn thuần kể lại các đóng góp của Anh-Mỹ vào sự hãm hiếp Đông Á của Châu Âu. Hàng thế kỷ qua, bất cứ cường quốc Tây Âu với một nhúm kỹ thuật quân sự vượt trội nào cũng đều đến cướp bóc Tây Thái Bình Dương.

Obama tới Đông Á về cơ bản để nói: “Chúng tao vẫn chưa xong việc. Quốc Gia Không Thể Thiếu phải thống trị ở mọi nơi. Chúng tao rời đi khi người Việt Nam làm nhục và đá đít chúng tao ra khỏi khu vực. Nhưng chúng tao đang quay trở lại. Chúng tao đang xoay trục.”

Thậm chí trước khi Obama rời Hoa Kỳ, “sự xoay trục” của ông ta sang Tây Thái Bình Dương đã thất bại nặng nề, bởi Hoa Kỳ đang sa lầy đến tận lỗ mũi ở đầm lầy Trung Đông do sự vận động hành lang của Israel, và bởi vì Hoa Kỳ đã đẩy Nga vào vòng tay của Trung Quốc với việc dàn xếp cuộc đảo chính của phát xít ở Ukraina. Theo đúng bản chất, trước khi trèo lên khoang chiếc máy bay 747 để tới Bắc Kinh, Obama không thể cưỡng lại việc tự nhấn mình sâu hơn chút nữa vào vũng lầy ở Trung Đông bằng cách gửi 1500 lính bộ binh nữa tới vùng đất giết chóc Iraq.

Ngay trước hội nghị APEC, liên kết Nga-Trung trở nên sống động khi tổng thống Putin và Tập thông qua một thỏa thuận về đường ống dẫn dầu chủ chốt, thứ sẽ đưa vào Trung Quốc nguồn cung khí đốt tự nhiên mà Hoa Kỳ đã lấy đi khỏi Châu Âu với cuộc đảo chính ở Kiev. Đường ống này được gọi là đường ống Phương Tây hay Altai, và là đường ống thứ hai từ Nga tới Trung Quốc. Thỏa thuận về đường ống đầu tiên đã được thông qua vào tháng năm mới đây và được đài báo nói tới rất nhiều. Tuyến đường bộ này cung cấp cho Trung Quốc nguồn dầu dồi dào mà hải quân Hoa Kỳ không thể ngăn chặn trên biển được. Điều đó gia tăng an ninh cho Trung Quốc, giúp họ đối mặt với sự xoay trục. Do đó, thỏa thuận này vượt xa tính biểu tượng. Lực lượng hải quân khổng lồ của Hoa Kỳ trở nên ít có ích hơn với mục tiêu thống trị của họ, mặc dù điều đó không làm giảm gánh nặng cho những người dân đóng thuế ở Mỹ chút nào.



Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Nga và Trung Quốc hợp tác khiến vị trí bá quyền của đồng đô la chao đảo

Hồi kết của đồng đô la Mỹ

Nguồn: Tiếng nói nước Nga

Các chuyên gia cho rằng, sự xích lại gần nhau giữa Nga và Trung Quốc đang đe sự bá quyền của đồng đô la Mỹ. Gần đây, trong thời gian chuyến thăm Moskva của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, hai bên đã khẳng định ý muốn gia tăng tối đa số hợp đồng được thanh toán bằng rúp và nhân dân tệ. Giới chuyên viên nhấn mạnh rằng, xu hướng như vậy cuối cùng có thể chấm dứt sự thống trị của đồng USD.

Vào tháng 5, Gazprom và CNPC đã ký kết hợp đồng tổng giá trị 400 tỷ USD cho 30 năm tới về cung cấp khí đốt cho Trung Quốc. Trung Quốc đã trả các khoản thanh toán đầu tiên theo hợp đồng này bằng nhân dân tệ. Như vậy, lần đầu trong lịch sử thương mại quốc tế, một hợp đồng trong lĩnh vực năng lượng được thanh toán bằng nhân dân tệ, mà không có sự tham gia của đồng USD. Tất nhiên, chỉ riêng một hợp đồng khí đốt Nga-Trung Quốc không thể ảnh hưởng mạnh đến số phận của đồng đô la. Tuy nhiên, có lý do để cho rằng, trên thế giới sẽ ký kết những hợp đồng thương mại khác mà không có sự tham gia của đồng tiền Mỹ. Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và dự báo chính trị Andrey Vinogradov cho biết: “Khối lượng thương mại giữa Trung Quốc và Nga là khá lớn. Và cả hai nước đều muốn đảm bảo sự ổn định. Tỷ giá biến động của đồng rúp so với đồng USD ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ thương mại và kinh tế song phương giữa Nga và Trung Quốc. Vì thế, cả hai nước đều muốn phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái. Một trong những phương pháp để ổn định lại tình hình có thể là việc chuyển sang thanh toán bằng đồng tiền quốc gia”.

Các nước khác cũng muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ. Mùa hè năm nay, lãnh đạo các nước BRICS đã ký kết thỏa thuận khung về thành lập Quỹ dự trữ ngoại hối và Ngân hàng Phát triển mới. Trên thực tế, đó là các cơ chế giống với IMF và Ngân hàng Thế giới, mà trong nhiều năm tồn tại hai tổ chức quốc tế đó đã trở thành công cụ của Mỹ để gây áp lực chính trị.



Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Cuộc tấn công của doanh nghiệp đa quốc gia lên nền dân chủ Châu Mỹ Latin

Đồng tiền nặng hơn công lý

Tác giả: Justin Doolittle
Nguồn: CounterPunch
Nguồn dịch: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

Châu Mỹ Latin luôn luôn là mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp cá mập. Trong nhiều thập kỷ, dưới sự ủng hộ của các chính quyền do phương Tây hậu thuẫn, thân thiện với doanh nghiệp nhưng tàn bạo với công dân của họ, những con quái vật doanh nghiệp đã hút cạn máu của khu vực – đôi khi là theo nghĩa đen. Câu chuyện về sự cướp bóc thông qua chủ nghĩa tự do mới ở phần này của thế giới, cũng như sự phản ứng dữ dội của dân chúng đối với chúng ở Châu Mỹ Latin, không phải là điều gì mới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cuộc tấn công dữ dội của doanh nghiệp lên các xã hội Châu Mỹ Latin đã chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn mà cuộc chiến chủ chốt được quyết định ở tầng thứ tư của trụ sở Ngân Hàng Thế Giới tại Washington, bởi thiết chế mờ ám nhưng ngày càng gia tăng quyền lực được gọi là Trung Tâm Quốc Tế Giải Quyết Tranh Chấp Đầu Tư (ICSID).

Điều đầu tiên bạn cần biết về ICSID là nó có quyền ra các quyết định ràng buộc có ảnh hưởng đến dân chúng của cả vùng hay quốc gia. Hầu hết những quyết định đó được các tòa hòa giải nhỏ đưa ra, thường là bao gồm chỉ một nhúm người. Thiết chế bí mật này là một phần của Hiệp Ước ICSID, một hiệp ước đa phương có hiệu lực vào tháng 10 năm 1966, hiện nay có 150 quốc gia tham gia. Hiệp Ước ICSID “tìm cách tháo gỡ các cản trở chủ chốt đối với lưu thông quốc tế của đầu tư tư nhân tạo ra bởi những rủi ro phi thương mại và sự thiếu vắng các phương pháp chuyên môn quốc tế đối với giải quyết tranh chấp đầu tư”. Nếu như câu đó làm bạn rùng mình, tốt thôi, nó phải vậy.

Chi tiết cấu trúc và hành chính của ICSID thì tẻ nhạt và chứa rất nhiều ngôn ngữ doanh nghiệp. Nhưng về căn bản, bề ngoài ICSID có nhiệm vụ thiết lập và giám sát các tòa hòa giải độc lập cho việc phân xử những tranh chấp chủ yếu giữa thực thể tư nhân và chính quyền. Một ví dụ, khi quốc gia X nói với doanh nghiệp Y rằng, sau khi cân nhắc kỹ càng, họ muốn thay đổi chính sách và cấm khoan dầu tại những một khu vực có môi trường dễ tổn thương, thì đây là chỗ doanh nghiệp Y đến để kiện. Một tòa hòa giải được thiết lập và sự xét xử bắt đầu. Cả hai bên có tranh chấp phải đồng ý với các điều khoản được thảo ra, điều đó sẽ được ghi lại, và mỗi bên sẽ đưa ra các trọng tài được lựa chọn. Tuy nhiên, với ảnh hưởng của ICSID lớn dần với số vụ xét xử, chúng ta phải xem xét lại xem có phải khôn ngoan không khi mà những quyết định này, trong khi chúng thường xuyên tác động đến sức khỏe của môi trường cả về ngắn hạn cũng như dài hạn, được đưa ra thông qua quá trình mà các cư dân địa phương – những người thực sự phải chịu ảnh hưởng của những quyết định nói trên – hầu như bị gạt bỏ.



Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Toàn cầu hóa: Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng thực phẩm và sinh thái ở Trung Mỹ

Tác giả: Nick Alexandrov
Nguồn: CounterPunch
Nguồn dịch: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

“Hạn hán đã giết chúng tôi”, một người Honduras trẻ, Olman Funez nói về mùa hè năm ngoái. Anh ta đề cập tới cái mà Ngân Hàng thế giới gọi là “một trong những đợt hạn hán dài nhất suốt nửa thế kỷ qua”. Một nông dân Guatemala 60 tuổi khẳng định rằng ông chưa từng thấy “thảm họa nào như vậy”. Carlos Rosman, một nông dân Guatemala nói với phóng viên rằng “Chả có gì ở đây hết. Chúng tôi ăn những gì có thể tìm thấy.”

Những người này nằm trong số 2,8 triệu người Trung Mỹ “cố gắng một cách khó khăn để nuôi sống bản thân” trong khu vực “hàng lang khô hạn” – “một khu vực khô hạn nằm giữa Guatemala, El Salvador, Honduras và Nicaragua”, theo thông tin từ tổ chức Chương Trình Lương Thực Thế Giới của Liên Hiệp Quốc. Chính quyền Nicaragua mô tả đợt hạn hán là tồi tệ nhất trong 32 năm qua. Vào tuần trước tổ chức Chữ Thập Đỏ Quốc Tế và Trăng Lưỡi Liềm Quốc Tế “nói khoảng 571,710 người bị ảnh hưởng bởi hạn hán ở Honduras”, và “các hộ gia đình buộc phải bán tài sản và gia súc để mua thực phẩm cần thiết cho sống sót, trong khi những người khác đi tị nạn để tránh tác động của hạn hán”. Nhưng khủng hoảng lương thực ở Honduras và Nicaragua không phải là hiện tượng mới. Ở cả hai quốc gia này, chính sách của Hoa Kỳ đã gây ra nạn đói Trung Mỹ.

Thử xem xét Honduras, nơi mà vùng Choluteca là một phần của “hành lang khô hạn”. Lãnh sự Hoa Kỳ ở Tegucigalpa đã viết vào năm 1904 về “sự đa dạng thực vật” của Choluteca, “từ các loại thông và sồi của thượng du cho đến cọ và dừa dọc theo bờ biển”. Vùng rừng giàu có này đã bị tàn phá trong 70 năm sau đó, giảm từ 29% xuống 11% trong khu vực được thống kê vào những năm 1960 và 1970. Bãi chăn thả tăng diện tích bao phủ từ 47% lên 64% trong cùng kỳ. “Gia súc đang ăn hết rừng”, Billie R. DeWalt tường thuật trên Bản Tin Các Nhà Khoa Học Nguyên Tử ba thập kỷ trước đây. Nhà nhân loại học Jefferson Boyer đồng tình, cho biết là các trại chăn nuôi Choluteca “đơn giản chỉ thuê lao động để đốn và đốt cây cũng như bụi rậm, phát quang đất cho cỏ mọc”.

Honduras “bị biến thành bãi chăn thả gia súc khổng lồ nhằm mục đích xuất khẩu”, DeWalt nói thêm – một sự phát triển phục vụ các mục đích của Washington. Robert G. Williams cho biết một ví dụ, “Liên Minh Tiến Bộ thúc đẩy xuất khẩu thịt bò Trung Mỹ” của Kennedy, và “Ngân Hàng Thế Giới, AID, và IADB” đều coi thịt bò “là cách thực dụng và nhanh chóng để đạt được tăng trưởng nhờ xuất khẩu”. DeWalt tiếp tục, lượng thịt bò “không đến với 58% trẻ em Honduras dưới 5 tuổi có dấu hiệu suy dinh dưỡng”. Thay vào đó, nó đến Hoa Kỳ, nơi có “nhu cầu nhập khẩu vô tận các sản phẩm từ gia súc” và là “nhà nhập khẩu lớn nhất” “của thịt bò xuất khẩu từ Trung Mỹ”. Khi các công dân Mỹ nhồi nhét bít tết và hamburger vào mồm, “nguồn cung cấp thực phẩm ở các nước nghèo trở nên thiếu hụt, thất nghiệp gia tăng, và đất đai cũng như các tài nguyên khác bị suy giảm mạnh”. Người Honduras nghèo khổ do đó buộc “phải cạnh tranh với động vật để giành các tài nguyên có sẵn ở địa phương”.