Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Chế độ ăn ít carbohydrate: Vài mẹo nhỏ cho những ai bắt đầu - phần 2

Chế độ ăn ketogenic

Nguồn: Tips & tricks for starting (or restarting) low-carb - Part II
Tác giả: Michael R. Eades, M.D.

Trong bài viết trước, chúng ta thảo luận về cách tốt nhất để thúc đẩy quá trình thích nghi với trạng thái ít carbohydrat là tăng cường lượng mỡ ăn vào. Tôi không đề cập đến nhưng một bí mật nhỏ khác là để ý lượng protein. Quá nhiều protein sẽ ngăn cản sự chuyển đổi sang ketosis vì gan bạn sẽ chuyển một số protein đó thành glucose – lượng glucose này sẽ được dùng làm năng lượng trước và làm chậm lại quá trình chuyển đổi. Dĩ nhiên, điều này dẫn đến câu hỏi, bao nhiêu protein là quá nhiều? Chừng nào bạn nhận protein từ thịt nhiều mỡ, nhiều khả năng là bạn sẽ không gặp vấn đề gì. Nếu bạn chỉ chọn phần thịt toàn nạc, ví dụ thịt gà nạc bỏ da, hay bạn uống bổ sung bột protein ít chất béo, bạn có thể gặp vấn đề trong quá trình thích nghi. Nếu bạn uống bổ sung bột protein, tôi khuyên bạn nên cho thêm một ít dầu dừa vào đó vì một số lý do. Thứ nhất, bạn sẽ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi, và thứ hai, chất béo trong dầu dừa sẽ giúp loại bỏ chất béo khỏi gan và giúp phục hồi gan bạn.

Như tôi đã viết ở bài trước, bạn thực sự cần ăn nhiều chất béo để thúc đẩy quá trình thích nghi càng nhanh càng tốt. Nếu bạn không thích ăn thịt nhiều mỡ, bạn có thể thêm một ít triglyceride chuỗi trung bình (medium-chain triglycerides hay MCT) vào chế độ ăn. MCT được hấp thụ gần giống như carbohydrat và nhanh chóng được sử dụng bởi cơ thể. Chúng gần như không bao giờ được chuyển thành tế bào chất béo của cơ thể mà được đốt làm năng lượng, chút nào còn lại đều được chuyển thành ketone. Vì vậy, MCT sẽ đẩy nhanh quá trình sản xuất ketone. Dầu dừa cũng vậy nếu bạn thích nó hơn.

Bạn có thể tìm thấy dầu MCT ở hầu hết các cửa hàng bán thực phẩm và thuốc bổ sung sức khỏe (health food shops). Tôi chưa bao giờ gặp vấn đề gì với nó, nhưng một số người có thể bị buồn nôn nếu họ uống quá nhiều. Vì vậy nếu bạn quyết định thử, hãy bắt đầu ít một rồi tăng dần. Hoặc là dùng dầu dừa.

Ngoại trừ việc thỉnh thoảng thèm carbohydrat, những triệu chứng phổ biến nhất của những người mới bắt đầu chế độ ăn ít carbohydrat là mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt và chuột rút. Có thể nói bốn triệu chứng này chiếm đến 98% những phàn nàn chúng tôi nhận được từ các bệnh nhân khi họ mới bắt đầu chế độ ăn ít carbohydrat. Không phải ai cũng trải qua những triệu chứng này – đặc biệt là những người làm theo các chỉ dẫn của chúng tôi – nhưng trong số những người có gặp vấn đề, nó gần như luôn luôn là một trong bốn triệu chứng đó. Hãy thử xem bạn có thể làm gì để tránh hoặc chữa trị nếu bạn đang phải trải qua những triệu chứng đó.



Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

Chế độ ăn ít carbohydrate: Vài mẹo nhỏ cho những ai bắt đầu - Phần 1

Low carb

Tác giả: Tiến sĩ y khoa Michael R. Eades
Nguồn: Proteinpower.com

Như những ai từng trải qua nó đều biết, bắt đầu chế độ ăn ít carbohydrat thường đi kèm một số trở ngại. Không phải với tất cả, nhưng một số. Những trở ngại nho nhỏ ban đầu này – cộng với áp lực từ bạn bè và người thân, những người có ý tốt nhưng thiếu hiểu biết, nghe theo đài báo mà nói rằng chế độ ăn ấy sẽ làm hại thận, làm nghẽn động mạch và suy yếu xương bạn – là đủ để khiến nhiều người từ bỏ kế hoạch của họ. Dựa trên gần 30 năm kinh nghiệm điều trị bệnh nhân bằng chế độ ăn ít carbohydrat của mình, tôi có thể đưa ra một số lời khuyên và mẹo nhỏ để giúp bạn đối phó với những trở ngại ban đầu này.

Lắng nghe cơ thể bạn?

Con đường chắc chắn nhất để dẫn đến thất bại trong những ngày đầu của chế độ ăn ít carbohydrat là lắng nghe cơ thể bạn. Cái ý tưởng lắng nghe cơ thể bạn là một trong những thứ làm tôi bực mình nhất. Trên thực tế, chỉ nghe những từ đó thôi là đủ làm tôi muốn nôn mửa. Chúng thường được thốt ra bởi những cô nàng với đôi mắt ươn ướt, mơ màng, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Tôi vừa đọc hàng đống lời nhận xét trong một trang blog về chế độ ăn nguyên thủy (paleo), trong đó ý tưởng nhảm nhí đó được đưa ra bởi nam giới nhiều hơn nhiều so với nữ giới.

Lắng nghe cơ thể bạn cũng giống như thả lỏng cương cho một con ngựa hoang chưa được thuần hóa. Nếu bạn vừa bắt đầu cai rượu ba ngày mà bạn lắng nghe cơ thể bạn thì bạn đi tong. Nếu bạn ở trong trại cai nghiện ma túy mà bạn lắng nghe cơ thể bạn thì bạn đi tong. Và nếu bạn vừa bắt đầu chế độ ăn ít carbohydrat một tuần mà bạn lắng nghe cơ thể bạn thì bạn đi tong. Thực ra thì, lắng nghe nó cũng được, nhưng đừng làm những gì nó bảo bạn làm, bởi vì nếu bạn làm thế thì bạn đi tong.

Được rồi, không nói năng bừa bãi nữa. Tôi chỉ xả một chút cho đỡ tức. Bạn không thể tưởng tượng nổi con số những người vừa bắt đầu thử chế độ ăn ít carbohydrat, rồi bỏ cuộc và nói với tôi những từ đó. Không được, tôi lại sắp sửa nói năng bừa bãi. Dừng lại!



Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

Ảo vọng ăn chay - Chương 4 phần 3: Tác hại của đậu tương với sức khỏe

Tác giả: Lierre Keith
Nguồn: Sách The Vegetarian Myth

Không một thảo luận nào về ăn chay có thể đầy đủ nếu không nói đến đậu tương. Đậu tương từng được tung hô là giải pháp cho mọi thứ từ chứng triều nhiệt của phụ nữ mãn kinh cho đến nạn đói của thế giới. Các tập đoàn nông nghiệp đã làm mọi cách để chúng ta tin rằng đậu tương có lợi cho sức khỏe – ADM tiêu 4,7 triệu đôla để mua thời lượng quảng cáo trên chương trình truyền hình Gặp gỡ báo chí (Meet the Press), và 4,3 triệu đôla cho chương trình Nói chuyện với cả nước (Face the Nation) – mặc dù cho tới gần đây, chưa có ai từng ăn những thứ sản phẩm công nghiệp đang được bán cho tất cả mọi người trên khắp Hoa Kỳ, từ người già cho đến trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh.

Đậu tương là một cây họ đậu từng được trồng xen canh với các vụ cây ngắn hạn khác trên khắp châu Á. Bởi vì nó có thể giữ nitơ từ không khí, đậu tương được dùng như một loại phân xanh. Những chữ tượng hình của Trung Quốc cho lúa mạch, kê, gạo và lúa mì vẽ phần hạt của chúng, bởi vì phần ăn được là quan trọng. Chữ tượng hình cho đậu tương vẽ phần rễ, bởi vì nó được trồng chỉ để giữ đất chứ không phải để ăn. Đậu tương chứa nhiều chất phản dinh dưỡng đến nỗi nó không thể ăn được nếu không qua rất nhiều khâu xử lý, nhiều hơn nhiều so với các loại hạt khác.

Đầu tiên, đậu tương chứa những chất ức chế trypsin. Trypsin, như bạn vẫn nhớ, là một enzyme tiêu hóa sản xuất bởi tuyến tụy. Đấy là lý do tại sao ăn đậu tương gây đầy hơi, đau bụng và tiêu chảy. Lên men đậu tương sẽ làm vô hiệu hóa hầu hết các chất ức chế trypsin. Trong một nghiên cứu thực hiện trên 50 nền văn hóa châu Á, những dân tộc tìm được cách vô hiệu hóa các chất ức chế trypsin là những dân tộc duy nhất coi đậu tương là thứ ăn được. Tương miso của Nhật Bản, món được lên men rất kỹ, bắt đầu được ăn vào khoảng giữa thế kỷ 2 trước công nguyên và thế kỷ 4 sau công nguyên. Đậu phụ, món không được lên men, được phát minh vào năm 164 trước công nguyên, và tempeh, một món cũng được lên men, được sáng chế vào những năm 1600. Các nhà sư ăn đậu phụ vì nó giúp họ giữ lời thề tiết chế tình dục: chất phytoestrogen trong đậu tương làm giảm nồng độ testoterone và ham muốn tình dục của họ. “Ngoại trừ trong nạn đói,” chuyên gia về đậu tương Kaayla Davis viết, “đậu phụ được dùng như một món ăn thêm, ăn với lượng nhỏ, thường là cùng với canh cá, chứ không phải là món chính.” Người Trung Quốc chỉ dùng đậu tương làm nguồn protein chính khi họ đang chết đói – khi mà họ ăn cả con cái họ.

Canh cá là một chi tiết quan trọng trong câu chuyện về đậu tương. Nếu bạn chịu được những cơn đau bụng gây ra bởi chất ức chế trypsin, vấn đề tiếp theo với đậu tương là phytat. Phytat, bạn nhớ không, liên kết với các chất khoáng trong đường tiêu hóa khiến bạn không hấp thụ được chúng. Đậu tương có nồng độ phytat cao đến mức không một phương pháp ngâm hay lên men nào có thể loại trừ hết chúng. Bạn có thể thấy sự khôn ngoan trong việc ăn đậu phụ cùng canh cá, vì canh cá cung cấp một lượng lớn các chất khoáng để bù lại ảnh hưởng của phytat.



Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Tầm quan trọng của chất béo với bộ não

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 25: Tầm quan trọng của chất béo với bộ não


Bộ não là cơ quan tốn kém nhất về mặt năng lượng trong cơ thể. Nó chỉ chiếm 5% khối lượng cơ thể, nhưng dùng ít nhất 20% – 30% tổng năng lượng cung cấp cho cơ thể để thỏa mãn nhu cầu của nó. Nhiều người nghĩ rằng bộ não cần glucose để có lượng năng lượng này, nhưng rất ít người biết rằng thực ra bộ não thích ketone, một hợp chất chứa năng lượng tạo ra từ mỡ, làm nguồn năng lượng chính hơn!


Bộ não có thể dùng glucose, đặc biệt là khi người đó ăn chế độ ăn gồm chủ yếu là carbohydrat hoặc trong trường hợp khẩn cấp. Nhưng trong điều kiện bình thường hàng ngày, glucose không cần thiết cho bộ não như mọi người vẫn thường nghĩ. Khi không có carbohydrat và một khi đã thích nghi về mặt chuyển hóa chất, bộ não dễ dàng sử dụng ketone làm nguồn năng lượng chính.

Bộ não dùng ketone trong trạng thái ketosis. Sử dụng ketone trong não là phổ biến ở trẻ sơ sinh nuôi bằng sữa mẹ giàu chất béo. Sự chuyển đổi sang phụ thuộc vào carbohydrat chỉ xảy ra khi carbohydrat được đưa vào chế độ ăn của trẻ. Những enzyme chịu trách nhiệm chuyển hóa ketone, d-beta-hydroxybutyrate dehydrogenase, acetoacetate-succinyl-CoA transferase, acetoacetyl-CoA thiolase, có đủ trong não để chuyển hóa ketone thành acyl-CoA và đưa nó vào chu trình tricarboxylic acid ở tốc độ phù hợp để thỏa mãn nhu cầu năng lượng của bộ não. Khả năng sử dụng ketone trong não tỷ lệ thuận với trạng thái ketosis của cơ thể.

Cơ thể ưu tiên đốt đường trước mỗi khi nồng độ đường huyết tăng quá mức, chủ yếu để loại bỏ chất tai hại đó khỏi cơ thể bằng mọi cách có thể. Glucose cũng còn được dùng làm nguồn năng lượng chủ yếu cho bộ não khi nó đột nhiên có nhu cầu năng lớn, ví dụ như trong tình trạng khẩn cấp. Lượng carbohydrat dự trữ trong gan dưới dạng glycogen luôn sẵn sàng cho trường hợp đó. Không một ai cần ăn carbohydrat để có đủ glucose cho não hay cơ thể dùng. Không bao giờ.

Trên thực tế, dùng hoàn toàn glucose làm nguồn năng lượng chính cho bộ não và cơ thể là trái tự nhiên và có hại. Không may đây là trạng thái của tuyệt đại đa số mọi người. Các tế bào não không chịu tác động nhiều bởi insulin và do đó bị ảnh hưởng từ quá trình glycation và ôxy hóa của các gốc tự do do glucose tạo ra hơn bất cứ mô nào khác trong cơ thể. Không có cái gọi là mức độ an toàn của glucose. Glucose và các loại đường khác như fructose luôn luôn gây ra quá trình glycation và tạo ra các gốc tự do. Không gì có thể thay đổi điều đó. Mặc dù chúng ta cần glucose ở một mức độ nhất định để cung cấp năng lượng cho các tế bào hồng huyết cầu, glucose là nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến sự thoái hóa và cái chết của chúng ta. Tuy vậy, chúng ta có thể kiểm soát mức độ glycation và thoái hóa, thông qua việc lựa cho ăn gì.


Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Nuôi dưỡng bộ não cho đúng

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 24: Nuôi dưỡng bộ não cho đúng


Những nghiên cứu mới nhất cho thấy yếu tố ăn uống có vai trò quan trọng trong việc quyết định bộ não ở tuổi già vẫn minh mẫn hay phải chịu một trong những căn bệnh thoái hóa thần kinh.

Tiến sĩ Mark P. Mattson, “Tương tác giữa chế độ ăn và gen trong sự già đi của não bộ và các hội chứng thoái hóa thần kinh,” Tạp chí Nội Y học (Annals of Internal Medicine), 2003

Quan niệm sai lầm thông thường là có sự tách biệt giữa tâm trí và cơ thể. Trên thực tế, không có sự tách biệt lớn nào giữa tâm trí và cơ thể. Điều gì xảy ra với một cái cũng xảy ra với cái kia. Cả hai thuộc về cùng một hệ thống, hoạt động tốt hoặc hư hỏng cùng nhau. Bạn không thể có hoạt động nhận thức và tâm lý khỏe mạnh mà không có một cơ thể khỏe mạnh, được nuôi dưỡng hợp lý (Lần cuối cùng tôi kiểm tra, bộ não là một phần của cơ thể con người – ít nhất là ở hầu hết mọi người). Ngay cả những phương pháp trị liệu tâm lý hay thuốc an thần tốt nhất cũng không thể mang lại một chất dinh dưỡng bị thiếu hay loại trừ một chất độc đang ở trong bộ não. Những thứ đó còn lâu mới có thể bù lại một chế độ ăn không đúng mực.

Nguy cơ suy giảm trong chức năng nhận thức và khả năng học hành ở học sinh trung học tăng 400% nếu bị nhạy cảm với gluten.
M. Verkasalo, “Bệnh celiac thầm lặng không được chẩn đoán: Một nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng học hành,” Tạp chí Vị tràng học Scandinavia (Scandinavian Journal of Gastroenterology), 2005
Bộ não và cơ thể cần một số nguyên liệu thô để hoạt động. Chấm hết. Không có đầy đủ những nguyên liệu thô phù hợp, không một hình thức trị liệu nào có thể có kết quả tối ưu hay lâu dài. Những chất độc nhận vào hàng ngày, dù là đường hay bột, gluten, rượu bia, kim loại nặng, mì chính, xenoestrogen, thực vật biến đổi gen, hay chất ô nhiễm, không thể được bù lại bằng bất cứ hình thức trị liệu tâm lý hay bằng cách nhồi thêm chất độc mới dưới hình thức thuốc kê đơn. Thêm vào đó, tất cả các chất truyền dẫn thần kinh có các thụ cảm tương ứng ở tất cả mọi cơ quan và hệ thống trong cơ thể. Trong số gần 300 chất truyền dẫn thông tin trong cơ thể, gần như tất cả ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể chứ không phải chỉ giới hạn ở bộ não. Ngay cả các nơron cũng không giới hạn trong não bộ. Chúng tồn tại với số lượng lớn ở nhiều nơi khác trong cơ thể.

Tâm trí (bao gồm cả trí nhớ và tình cảm) không chỉ nằm trong bộ não; tâm trí tồn tại như một “trường” xuyên khắp cơ thể con người! Cái gì ảnh hưởng đến tâm trí sẽ ảnh hưởng đến cơ thể, và ngược lại. Bạn không thể tách rời hai thứ.


Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

Chất xơ có phải một carbohydrat không thể thiếu không?

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 18: Chất xơ có phải một carbohydrat không thể thiếu không?


Ngày 20/1/1999, chương trình ABC World News Tonight (Tin tức thế giới tối nay của đài ABC) với người dẫn chương trình Peter Jennings tường thuật rằng một nghiên cứu quy mô lớn mới được công bố cho thấy chất xơ hoàn toàn “vô dụng” trong việc giúp phòng ngừa ung thư đại tràng. Nghiên cứu này vừa được công bố trong Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine). Nó cho thấy rằng chất xơ, từng được coi là thần dược để phòng tránh ung thư đại tràng và củng cố sức khỏe đại tràng, hoàn toàn không có tác dụng bảo vệ. Vâng, bạn nghe đúng đấy. Nghiên cứu khổng lồ trên 88.000 người trong vòng 16 năm đó kết luận một cách chắc chắn rằng ăn một chế độ ăn nhiều chất xơ không có chút tác dụng nào trong việc phòng tránh ung thư đại tràng.

Tờ Thời báo New York có dòng tít tương tự “Nghiên Cứu Cho Thấy Chất Xơ Không Giúp Phòng Tránh Ung Thư Đại Tràng”. Giả thuyết này được đưa ra bởi bác sĩ kiêm nhà truyền giáo người Anh, Denis P. Burkitt, người từng nghiên cứu một số dân tộc có vẻ không bị ung thư đại tràng ở châu Phi và phỏng đoán rằng chế độ ăn giàu chất xơ là yếu tố hỗ trợ. Giả thuyết này đã bị bác bỏ vĩnh viễn một cách thuyết phục bởi nghiên cứu trên. Tờ Thời báo New York viết, “Ông lan truyền giả thuyết của mình như một chân lý về dinh dưỡng, khiến hàng triệu người nghe theo mà thay đổi chế độ ăn của họ. Giờ đây, một nghiên cứu lớn nhất từng được tiến hành về chủ đề này đã kết luận rằng, ít nhất là đối với phòng tránh ung thư đại tràng, tất cả những thứ ngũ cốc, rau hoa quả ấy không có tác dụng gì.” Tác giả chính của nghiên cứu này, Walter Willett, giáo sư tiến sĩ dinh dưỡng và dịch tễ học tại khoa Sức khỏe Cộng đồng trường đại học Harvard, tuyên bố, “Giả thuyết rằng chất xơ là yếu tố quan trọng trong việc giảm nguy cơ ung thư đại tràng có vẻ lý thú, nhưng thực tế là dữ liệu nghiên cứu không ủng hộ nó chút nào.” Ông nói tiếp, “Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu dài nhất từng được tiến hành, và chúng tôi xem xét nhiều khía cạnh của chế độ ăn. Chúng tôi xem xét cả u hạch và ung thư đại tràng và không có chút gì ủng hộ ý tưởng rằng chất xơ làm giảm nguy cơ ung thư.”

Bạn có thể nghĩ tất cả những cái đó sẽ làm thay đổi khuyến nghị về dinh dưỡng của các bác sĩ. Nhưng có vẻ tất cả bọn họ đều không xem bản tin tối hôm đó và cũng không đọc báo vào sáng hôm sau. Câu truyện cổ tích rằng chất xơ giúp phòng tránh ung thư đại tràng vẫn tiếp tục được truyền bá, ngay cả khi ngũ cốc giàu chất xơ đã nhiều lần được chứng minh là có liên quan đến nhiều chứng bệnh đường ruột, bao gồm cả ung thư đại tràng.


Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Carbohydrat - Con đường dẫn đến bệnh tiểu đường loại 2

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 15: Carbohydrat - Con đường dẫn đến bệnh tiểu đường loại 2 

Insulin được biết đến như một hooc-môn dự trữ mỡ. Nó được kiểm soát bởi leptin, tuy nhiên các ảnh hưởng từ chế độ ăn tác động lên insulin và leptin theo cùng một cách, và mọi người thường trở nên 'nhờn' với các tín hiệu của cả insulin và leptin. Carbohydrat như đường và tinh bột - chứ không phải protein và mỡ - là những loại thực phẩm chính kích thích giải phóng insulin và gây ra những đợt dâng trào leptin gây hại cho sức khỏe. Điều này làm rối loạn các kênh liên lạc hooc-môn và làm cơ thể bị kháng hooc-môn.

Hầu hết lượng mỡ không muốn có trong cơ thể đến từ đường và tinh bột trong thực phẩm. Hooc-môn glucagon cho phép cơ thể đưa mỡ ra khỏi kho dự trữ và dùng làm nhiên liệu. Tuy nhiên glucagon không hoạt động khi có mặt insulin. Nếu bạn tiếp tục ăn nhiều carbohydrat khiến insulin tiếp tục được tiết ra, glucagon không thể hoạt động và mỡ của cơ thể không thể được đốt làm nhiên liệu.

Mỡ trong cơ thể không thể được đốt làm nhiên liệu chừng nào insulin còn có mặt. (Lặp lại đến khi nào bạn nhớ!)

Một nghiên cứu kéo dài 12 tuần ở Thụy Điển so sánh tác dụng của chế độ ăn nguyên thủy (rất ít carbohydrat) với cái gọi là chế độ ăn Địa Trung Hải bao gồm ngũ cốc nguyên hạt, sữa ít béo, hoa quả, rau và chất béo không bão hòa. (Chế độ ăn thực sự ở vùng Địa Trung Hải không giống thế chút nào). Sau 12 tuần, nồng độ đường huyết tối đa của những người tình nguyện giảm 26% nếu họ ăn chế độ ăn nguyên thủy, và chỉ 7% với cái gọi là chế độ ăn Địa Trung Hải.

Tiểu đường không phải là một căn bệnh về đường huyết mà là về insulin. Nồng độ đường huyết cao là biểu hiện của bệnh tiểu đường, nhưng không phải nguyên nhân. Nguyên nhân của bệnh tiểu đường là chế độ ăn quá nhiều carbohydrat, dẫn đến giải phóng quá nhiều insulin và leptin khiến các kênh liên lạc hooc-môn bị hư hỏng. Tăng cường insulin cho các bệnh nhân tiểu đường loại 2 chính là làm hại họ về lâu dài, mặc dù tạm thời họ có thể “cải thiện” nồng độ đường huyết. Đây là một phương pháp hoàn toàn sai lầm. Nồng độ insulin và leptin cao có liên quan chặt chẽ, hay thậm chí còn là một trong những nguyên nhân trực tiếp, của bệnh tim mạch, đột quỵ, huyết áp cao, ung thư, béo phì và nhiều căn bệnh khác nữa.


Do hầu hết các bệnh nhân tiểu đường loại 2 được điều trị bằng các thuốc làm tăng insulin hay trực tiếp tiêm insulin, kết quả bi thảm là những phương pháp chữa trị thông thường đó góp phần gây ra các tác dụng phụ và tuổi thọ bị rút ngắn mà những bệnh nhân tiểu đường loại 2 thường gặp.
Ron Rosedale, M.D., “Tiểu Đường Không Phải Là Căn Bệnh Về Đường Huyết”