Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh dưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh dưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Lý do tại sao một calo không đơn giản chỉ là một calo

Nguồn: Đại Kỷ Nguyên VN

Nhận xét: Đây là một bài viết hữu ích trong việc bác bỏ lập luận nguy hại rằng bạn chỉ cần lưu ý lượng calo ăn vào hàng ngày là mọi thứ sẽ ổn cả. Tuy nhiên, nó tập trung quá nhiều vào khía cạnh giảm cân mà bỏ qua mục đích quan trong nhất của dinh dưỡng là sức khỏe. Một số thực phẩm được nhắc đến trong bài cũng có hại nhiều hơn là có lợi như hoa quả ngọt, sữa/pho mát, carbohydrate thô. Bạn đọc nên lưu ý những điều đó khi đọc.

Có rất nhiều sự huyền hoặc vô lý khi nói về dinh dưỡng, trong đó “huyền hoặc về calo” là một trong những điều phổ biến nhất … và cũng gây tổn hại nhiều nhất. Đó là quan niệm rằng calo là phần quan trọng nhất trong chế độ ăn uống, và nguồn gốc của calo không quan trọng.

“Một calo là một calo”, họ vẫn nói vậy … không quan trọng rằng bạn ăn 100 calo kẹo hay bông cải xanh, nó sẽ có tác dụng tương tự như nhau lên trọng lượng cơ thể bạn. Đúng là mọi loại “calo” đều có cùng một lượng năng lượng. Một calo trong chế độ ăn uống cung cấp 4.184 Joules năng lượng (đơn vị tiêu chuẩn đo lường năng lượng trong hệ thống đo lường quốc tế SI). Ở khía cạnh đó, một calo là một calo.

Tuy nhiên, khi thực phẩm nạp vào trong cơ thể bạn, mọi chuyện không đơn giản như vậy. Cơ thể người là một hệ thống sinh hóa cực kỳ phức tạp với quá trình điều tiết cân bằng năng lượng rất tinh vi. Những loại thực phẩm khác nhau đi theo những con đường sinh hóa khác nhau, một vài trong số đó không hiệu quả và gây ra sự tiêu hao năng lượng (calo) bằng cách tỏa nhiệt. Thậm chí, quan trọng hơn nữa là những loại thực phẩm và chất dinh dưỡng khác nhau có ảnh hưởng lớn đến các hoóc-môn và các vùng trên não bộ kiểm soát cơn đói và hành vi ăn uống. Loại và lượng thức ăn mà chúng ta dùng có thể có tác động rất lớn tới quá trình sinh học.

Sau đây là 6 ví dụ chứng minh lý do tại sao một calo không phải là một calo:

1. Đường fructose và glucose

Hai loại đường đơn giản chính trong chế độ ăn hàng ngày là glucose và fructose. Hai loại này có vẻ gần giống nhau. Chúng đều có cùng một công thức hóa học và cân nặng chính xác như nhau. Thế nhưng khi vào trong cơ thể, hai loại đường lại hoàn toàn khác nhau. Mặc dù glucose và fructose có cùng công thức hóa học, nhưng fructose có nhiều tác dụng tiêu cực lên hoóc-môn, sự thèm ăn và quá trình trao đổi chất hơn.

Tất cả các mô trong cơ thể đều có thể chuyển hóa được glucose, nhưng fructose chỉ có thể được chuyển hóa tại gan với bất kể lượng nào. Đây là một vài ví dụ cho thấy vì sao calo của glucose không tương tự như calo của fructose: Ghrelin là một “hoóc-môn đói”. Nó tăng lên khi chúng ta đói và giảm xuống sau khi ăn no.

Một nghiên cứu cho thấy fructose làm gia tăng lượng ghrelin (khiến chúng ta cảm giác đói hơn) so với glucose. Fructose không kích thích các trung tâm gây cảm giác no trong não theo cùng một cách như glucose làm là giảm cảm giác no. Ăn quá nhiều fructose có thể dẫn tới kháng insulin, tăng mỡ bụng, lượng triglyceride tăng cao, đường trong máu và LDL (cholesterol xấu) nhỏ, dày đặc hơn so với chỉ số tương tự khi cơ thể hấp thụ calo của glucose.



Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Giải oan cho mỡ béo!

Tác giả: Vũ Minh
Nguồn: Đại Kỷ Nguyên VN

Vâng, béo ở đây là mỡ, béo có nguồn gốc tự nhiên từ động vật. Từ bao lâu nay, béo ta âm thầm cặm cụi làm việc theo đúng trách nhiệm vốn được tự nhiên ủy thác, vậy mà đùng một cái lại bị kết tội là thủ phạm liên quan đến các bệnh tim mạch, đột quỵ…

Sau vài thập kỷ đến nay, nhà nhà tẩy chay mỡ béo, đưa dầu thực vật lên ngôi quán quân nhưng số người mắc các bệnh kể trên vẫn đang đà thăng tiến. Nhiều công trình nghiên cứu mới đây đã nhìn nhận lại vấn đề, và chứng minh rằng béo ta không những không gây hại gì mà còn vô cùng cần thiết cho sức khỏe.

Câu chuyện bắt đầu

Vào khoảng cuối năm 1950 khi Ancel KEYS đưa ra quan điểm rằng chất béo bão hòa (saturated fats) gây ra bệnh tim và sau đó là chất béo bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Điều này hiện nay được nhiều người chấp nhận, từ người nội trợ bình thường, cho đến những người làm trong ngành dinh dưỡng, chuyên gia sức khỏe.

Béo bão hòa, bao gồm cả mỡ động vật nhanh chóng bị loại ra khỏi thực đơn, hoặc còn lại rất ít trong khẩu phần ăn. Đôi khi người ta bắt buộc phải giữ lại nó vì chẳng còn lựa chọn nào khác, hoặc tiếc là không thể tách hết béo ra! Hễ nghe đến béo bão hòa là họ liên hệ ngay đến những rủi ro chết người. 100 phần xấu!

Như vậy, Ancel KEYS là người đã tác động sâu sắc đến thói quen ăn uống của xã hội ngày nay. Tuy nhiên, khi nhìn vào những kết luận mà ông công bố ra, thì chúng chạy theo đủ hướng và thậm chí còn trái ngược nhau: khi thì béo bão hòa làm tăng cholesterol, lúc thì lại là do dầu thực vật, lúc thì là cả hai đều không có gì khác biệt trong tác động đến bệnh tim mạch…

Công trình nổi tiếng của Ancel Keys là nghiên cứu tại 7 nước, một nghiên cứu 20 năm trên 12.000 người ở 16 cộng đồng tại Greek islands, Yugoslavia, Hà Lan, Phần Lan, Nhật và Hoa Kỳ. Tuy nhiên ngày càng có nhiều chuyên gia bác bỏ nó do phương pháp tiếp cận, cách xử lý thống kê… là thực sự không ổn.

Sau hơn 5 thập kỷ, nhiều công trình nghiên cứu đã lần lượt lật ngược lại quan điểm của Ancel Keys. Họ chỉ ra rằng có rất nhiều cộng đồng có nguồn thực phẩm chính chứa hàm lượng béo bão hòa cao nhưng không thấy xuất hiện các vấn đề về tim mạch hay tử vong vì nó.

Cộng đồng

Thực phẩm chính

Tỉ lệ béo bão hòa

Maasai ở Kenya/Tanzania

Thịt, sữa, huyết bò

66 %

Người Eskimos ở Arctic

Cá heo và hải cẩu

75 %

Người Rendille ở Kenya

Sữa, thịt và huyết lạc đà

63 %

Người Tokealu, đảo san hô, thuộc New Zealand

Cá và dừa

60 %

Một số cộng đồng ăn nhiều chất béo bão hòa nhưng không có mối liên hệ với vấn đề sức khỏe



Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

Uống nhiều sữa tốt cho xương: Lời dối trá xuyên lục địa

Tác giả: Hồng Lưu
Nguồn: Đại Kỷ Nguyên VN

“Uống sữa tốt cho xương, uống sữa giúp phòng ngừa gãy xương…” là các thông điệp mà các giới chức của bộ ngành y tế sức khỏe, các chuyên gia dinh dưỡng, và đặc biệt là các nhà sản xuất và kinh doanh sữa vẫn đang ngày đêm tiếp tục quảng bá tại nhiều nước. Điều này đã trở thành hiển nhiên đúng với nhiều triệu người trên trái đất. Nhưng các nghiên cứu mới đây cho thấy, đó có lẽ chỉ là chiêu thuật để đẩy mạnh tiêu thụ sữa trong dân chúng.

Thực ra thì tiếng to tiếng nhỏ, nghi ngờ những khả năng phòng chống loãng xương, gãy xương… của sữa đã có từ lâu nhưng chưa có được các nghiên cứu nào đủ trọng lượng để khẳng định. Trong khi đó giới công nghiệp thì vừa nhiều tiền, giỏi ăn nói và quan hệ công chúng, lại “lobby” chính trị tốt nên luôn chiếm ưu thế trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt lại càng áp đảo trước các nhà khoa học có thói quen “rụt rè” trong các kết luận của mình.

Sau khi tổng hợp hàng loạt nghiên cứu khác nhau, phỏng vấn những người trong ngành, kết quả các điều tra thì nhà báo khoa học chuyên nghiên cứu về sữa và công nghiệp sữa, ông Thierry Soucar đã cung cấp rất nhiều thông tin và phân tích trong cuốn sách nổi tiếng của mình, “Lait, mensonges et propagand” (tạm dịch: Sữa, lời dối trá và tuyên truyền). Ông cho rằng, những “diễn văn” của các nhà sản xuất và kinh doanh sữa khuyến cáo nên nạp từ 3 đến 4 phần sữa mỗi ngày, ví dụ: 1 ly sữa, 1 cái yaourt, 1 miếng phomai, 1 chén ngũ cốc trộn sữa) để tốt cho xương…chỉ đơn thuần là lời tuyên truyền. Nếu dùng quá nhiều sẽ tăng khả năng bị ung thư tiền liệt tuyến ở nam, ung thư buồng trứng ở nữ, và bệnh Parkinson ở cả hai giới.

Cuộc tranh luận tẩy chay thông điệp này lại càng nóng lên sau khi các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard công bố kết quả thu được khi cố gắng tìm hiểu mối liên hệ giữa sự tiêu thụ sữa của những người vị thành niên và mối nguy gãy xương sau đó trong đời. Đây là một nghiên cứu quy mô rất lớn, thu thập số liệu của 22 năm và có sự tham gia của trên 96.000 người cả nam lẫn nữ (1).

Kết quả cho thấy, thêm một ly sữa hàng ngày ở tuổi vị thành niên là gắn với một mối nguy cơ bị gãy xương háng cao hơn ở đàn ông. Đối với phụ nữ thì uống sữa không liên quan đến việc tăng hay giảm mối nguy này.

Kết luận của các nhà nghiên cứu là: tiêu thụ sữa ở tuổi vị thành niên không giúp giảm nguy cơ gãy xương mà thậm chí còn làm tăng nguy cơ gãy xương ở đàn ông.

Thêm vào đó, theo một nghiên cứu công bố vào năm 2012 trên American Journal of Epidemiology, nếu người nào dùng nhiều sữa và lúc tuổi vị thành niên, thì sẽ làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt (2).

Thực thế nhiều khảo sát ở những nước phát triển, tiêu thụ nhiều các sản phẩm sữa cho thấy tỉ lệ các vấn đề xương khớp không sai biệt gì đáng kể so với những nước kém phát triển, nơi mặt hàng sữa vẫn còn thuộc loại xa xỉ. Mọi người thường hay liên hệ đến canxi khi nói đến sức khỏe của xương, nhưng thực ra các yếu tố dinh dưỡng khác cũng vô cùng quan trọng, đó là phốt pho, kali, các chất khoáng khác, đạm và vitamin. Cần đa dạng hóa thực phẩm để không bị thiếu hoặc dư thừa một chất nào đó.

Ở Việt Nam có lẽ cũng rất khó để thực hiện được những nghiên cứu bài bản và khách quan như trên. Tuy nhiên chúng ta cũng không có quá nhiều các sản phẩm sữa để dùng đến 3 – 4 phần mỗi ngày nhất là khi giá sữa luôn treo ở “trên cây”. Khi uống sữa, nếu bạn cảm thấy khó tiêu, đầy bụng, tiêu chảy, ợ hơi…thì cũng đừng nên ép. Hãy coi sữa cũng giống như các thực phẩm thông thường khác thì mọi chuyện đơn giản hơn nhiều.

Việc các doanh nghiệp luôn tìm cách rót vào tai người tiêu dùng những công dụng tuyệt vời đã được đánh bóng (đôi khi là không có thực) và thổi phồng lên là chuyện thường tình. Do vậy tự mỗi người phải tìm ra được chế độ dinh dưỡng phù hợp với cơ thể và túi tiền của mình.

Tài liệu tham khảo:

  1. Feskanich D, Bischoff-Ferrari HA, Frazier AL, Willett WC. Milk Consumption During Teenage Years and Risk of Hip Fractures in Older Adults. JAMA Pediatr.2013 Nov 18.

  2. Torfadottir JE. Milk intake in early life and risk of advanced prostate cancer. Am J Epidemiol. 2012 Jan 15;175(2):144-53. Epub 2011 Dec 20.

Nhận xét: Những "lời khuyên" chỉ có lợi cho túi tiền của các tập đoàn doanh nghiệp khổng lồ kiểu như trên đây xuất hiện đầy rẫy trên các phương tiện truyền thông và từ các cơ quan chính phủ nhận tiền của họ. Suy cho cùng, chỉ có chính bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm cho sức khỏe của bản thân. Do vậy, hãy thận trọng trước những "lời khuyên" như vậy. Mời các bạn xem thêm các bài viết dưới đây về một số "lời khuyên" tưởng chừng hiển nhiên khác.



Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Nhựa đang xâm chiếm và "dẻo hóa" cơ thể người

Tác giả: Đại Hải
Nguồn: Đại Kỷ Nguyên VN

Thống kê cho thấy 80% mặt hàng trong siêu thị tiếp xúc với nhựa. Đồ nhựa đã trở nên phổ biến đến mức môi trường khắp nơi bị nhựa xâm chiếm, và nhựa cũng đang dần dần “dẻo hóa, nhựa hóa” cơ thể con người! Các xét nghiệm cho thấy gần như 100% người tiêu dùng mang chứa nhiều loại nhựa trong máu, trong đó có tác động đáng ngại nhất lên sức khỏe là Bis phenol A (BPA).

BPA hiện hữu khắp nơi

BPA (Bis phenol A) là hợp chất hóa học được phát hiện từ năm 1891 bởi một nhà hóa học người Nga. Ngay từ những năm 30 của thế kỷ trước, người ta đã phát hiện ra hợp chất này có tác dụng tương tự như hoóc-môn estrogen, do vậy nguy cơ lớn nhất là nó sẽ làm rối loạn các quá trình sinh lý của cơ thể người. Tuy vậy, vào những năm 50, BPA vẫn tìm được con đường đi vào cơ thể người thông qua ngành công nghiệp nhựa nhờ có tác dụng làm cho các sản phẩm nhựa trong hơn và chắc khỏe hơn.

BPA còn được dùng làm nhựa epoxy, là thành phần của lớp lót mặt trong các lon, hộp đựng đồ uống và thực phẩm. Ở Bắc Mỹ,70% số lon hộp này có chứa BPA. BPA cũng có mặt trong các tờ tiền giấy, các hóa đơn in nhiệt và nhiều loại sản phẩm khác.

Sự phổ biến của các sản phẩm có sử dụng nhựa, đặc biệt là nhựa tái chế, giấy tái chế khiến cho BPA gần như có mặt ở khắp mọi nơi. 95% đến 99% số người được kiểm tra có BPA trong cơ thể ở mức độ có khả năng gây nguy hiểm. Phần lớn BPA đi vào cơ thể người qua việc ăn uống thực phẩm, nước đựng trong các lon hộp được lót BPA, hoặc qua nước, không khí, bụi bị nhiễm BPA.

Bất chấp nhiều tranh cãi xung quanh những nguy hại đối với sức khỏe của BPA, thị trường của loại hóa chất này vẫn tăng trưởng đều đặn và đạt giá trị khoảng 13 tỉ USD vào năm 2013.

Khoảng 1000 nghiên cứu cho thấy BPA có hại

Khi trao đổi với tờ Newsweek, Frederick vom Saal, một nhà nghiên cứu lâu năm của trường đại học Missouri – Columbia cho biết: đã có khoảng 1.000 nghiên cứu về BPA thực hiện trên động vật, và hầu hết cho thấy nó gây nên hoặc có liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe, từ những thay đổi trong khả năng sinh sản, tăng nguy cơ ung thư và các bệnh tim mạch, cho đến làm suy yếu quá trình phát triển của não bộ.

Tuy vậy, câu kết luận về việc BPA có ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe con người đến nay vẫn chưa hoàn toàn ngã ngũ, và dường như đáp án phụ thuộc vào người trả lời câu hỏi.

Chẳng hạn, năm 2006, một phân tích cho thấy mọi nghiên cứu do nhà công nghiệp tài trợ đều phát hiện BPA không có ảnh hưởng đáng kể. Ngược lại, 92% các nghiên cứu không nhận tài trợ từ nhà công nghiệp lại thấy BPA có ảnh hưởng.

Tính cho đến thời điểm này, nhiều nghiên cứu về BPA được thực hiện trên động vật và qua những nghiên cứu quan sát trên người, chưa có bằng chứng trực tiếp chứng minh BPA gây nên căn bệnh nào. Tất nhiên, ai cũng biết việc trực tiếp thí nghiệm trên người là điều gần như không thể, vả lại các chất độc sẽ tích lũy lại qua ngày qua tháng, đến khi phát hiện triệu chứng bệnh thì đều rất khó truy cứu trách nhiệm… BPA cũng không là ngoại lệ, dựa trên những bằng chứng nghiên cứu, phần lớn là trên động vật, FDA (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm) chỉ tuyên bố có “một số lo ngại” về tác động tiềm tàng của BPA đối với não bộ, hành vi, tuyến tiền liệt của bào thai, trẻ sơ sinh, và trẻ nhỏ.



Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Mì chính lặng lẽ giết người trong êm ái

Mì chính

Tác giả: Mạnh Lạc
Nguồn: Đại Kỷ Nguyên VN

Mặc dù được FDA công nhận là an toàn (GRAS, generally recognized as safe), bột ngọt hay còn gọi là mì chính lại là một trong những phụ gia thực phẩm tệ nhất mà bạn vẫn ăn hàng ngày.

Nhiều chuyên gia sức khỏe nhấn mạnh rằng bột ngọt còn nguy hại hơn cả rượu và nhiều loại thuốc khác, nó gây tổn thương não, ….

Bột ngọt còn được gọi là mì chính, có tên hóa học là monosodium glutamate (MSG). Trong bảng các phụ gia thực phẩm thì nó được mã hóa với ký hiệu là E621. Ngày nay bột ngọt được sử dụng trong rất nhiều các loại thực phẩm khác nhau nhất là các loại chế biến sẵn như: giò chả, đồ hộp, các nước sốt, nước mắm, nước tương, bột nêm, đồ ăn cho trẻ em…và đã trở thành loại gia vị gần như không thể thiếu của bất cứ bếp ăn nào ở Việt Nam, từ gia đình cho đến nhà hàng, căng tin.

Bột ngọt không phải là một gia vị đơn thuần như muối hay tiêu, mà là chất tăng cường hương vị cho thực phẩm, làm cho các đồ ăn có cảm giác tươi ngon hơn, mùi dễ chịu hơn. Nó đánh lừa miệng lưỡi của người ăn khi mang lại cảm giác là có nhiều protein hơn, ngon miệng hơn.

Lợi ích của bột ngọt đối với ngành công nghiệp thực phẩm thì đã rõ ràng, nhưng phụ gia này lại có thể hủy hại sức khỏe của bạn một cách lặng lẽ. Loại phụ gia này được xếp vào trong nhóm chất excitotoxin, là tên gọi của nhóm các chất gây tổn hại tới hệ thần kinh. Các excitotoxin thường gây kích thích quá lớn tới sự dẫn truyền thần kinh trong não dấn đến giết chết các tế bào thần kinh. Hầu hết các excitotoxin vào cơ thể người thông qua vai trò là phụ gia thực phẩm vì đặc tính của excitotoxin là kích thích các tế bào vị giác ở lưỡi, tăng cường cảm giác ngon ngọt của bất cứ loại thức ăn nào chứa chúng. Có khoảng 70 excitotoxin đã được xác định, đa số các excitotoxin này là các axit amin phản ứng với các thụ thể đặc hiệu trong não dẫn đến sự hủy diệt của một số loại tế bào thần kinh.

Được phát hiện ra từ năm 1908, nhưng mãi đến những năm 1960 mới có những nghiên cứu về sự nguy hại của mì chính (MSG). Năm 1957, bác sĩ nhãn khoa Lucas và Newhouse đã thử nghiệm MSG trên động vật, kết quả cho thấy 100% các tế bào thần kinh ở lớp trong võng mạc bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1968, Tiến sĩ Olney thuộc Khoa tâm thần học tại Đại học Washington đã lặp đi lặp lại các thử nghiệm cho thấy MSG không những phá hủy các tế bào thần kinh võng mạc mà còn phá hủy các tế bào vùng não dưới đồi và các tế bào não các vùng lân cận. Cả hai nghiên cứu đều cho thấy sự tàn phá mạnh mẽ của MSG tới não ở động vật mới sinh và chưa trưởng thành.

Khái niệm “Hội chứng nhà hàng Trung Quốc” (Chinese restaurant syndrome) đã được đưa vào trong các tài liệu y học để chỉ những người bị phản ứng phụ sau khi ăn bột ngọt, với các biểu hiện như tê, tim đập nhanh. Ngày nay hội chứng này được gọi là “Hợp chứng bột ngọt” (MSG Symptom Complex).

Gần đây nhiều nghiên cứu cũng cho biết cụ thể hơn về cơ chế gây hại của các excitotoxin trong đó có glutamate. Trong phòng thí nghiệm, cho các tế bào não tiếp xúc với glutamate, sau đó rửa sạch, thì thấy ban đầu các tế bào não vẫn bình thường, sau khoảng một giờ các tế bào này nhanh chóng bị chết. Những ảnh hưởng này có thể diễn ra ở trẻ nhỏ và người chưa trưởng thành, thậm chí ngay cả với người trường thành, nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Sự thiệt hại các tế bào thần kinh ở các vùng não chính là nguyên nhân gây ra các bệnh về thần kinh như Alzheimer, Parkinson, thậm chí còn gây u não, ung thư não và các bệnh về thần kinh hiếm gặp khác.

Nhiều tác dụng phụ khác cũng có liên quan đến việc tiêu thụ thường xuyên của bột ngọt, bao gồm: béo phì, tổn thương mắt, nhức đầu, mệt mỏi và mất phương hướng, trầm cảm. FDA cũng thừa nhận “Hợp chứng bột ngọt”. Hơn nữa, ngay cả FDA thừa nhận rằng triệu chứng này có thể xảy ra ở nhóm người có ăn nhiều bột ngọt.



Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Mì ăn liền nhưng... chết từ từ

Mì gói ăn liền

Nguồn: VTC News

Mì ăn liền vốn là một món ăn phổ biến đối với những người có ít thời gian và hạn hẹp về kinh tế , trong đó đặc biệt là giới sinh viên. Có thể trong chúng ta đều cho rằng mì ăn liền không phải là một món ăn bổ dưỡng, nhưng chúng cũng chẳng phải là món gây hại cho sức khỏe như những thức ăn nhanh khác gồm Hamburger, khoai tây chiên…

Tuy nhiên, trong một thí nghiệm đặc biệt gần đây, tiến sỹ Braden Kuo, công tác tại Bệnh viện cộng đồng Massachsetts (Mỹ) sẽ cho chúng ta cái nhìn chân thật nhất về tác hại của mì ăn liền sau khi xâm nhập vào cơ thể.

Theo đó, để hỗ trợ cho cuộc thí nghiệm này, ông Kuo đã sử dụng một chiếc camera siêu nhỏ để dẫn chứng điều gì xảy ra bên trong dạ dày và đường tiêu hóa của chúng ta sau khi chúng ta tiêu thụ mì ăn liền. Những kết quả đã gây ngạc nhiên cho nhiều người.

Mì ăn liền không dễ phân hủy sau nhiều giờ vào cơ thể

Bằng cuộc thí nghiệm được thực hiện thông qua một máy quay nhỏ, tiến sỹ Kuo đã cho chúng ta thấy một sự thật rằng, những sợi mì ăn liền khi được đưa vào cơ thể con người sẽ không dễ dàng phân hủy sau 2 giờ chúng ta ăn.

Mì ăn liền không tiêu trong dạ dày
Hình ảnh mì ăn liền (trái) vẫn "nguyên hình" sau nhiều giờ nằm trong dạ dày

Do vậy, mì ăn liền được cho là một đối thủ “khó xơi” đối với hệ tiêu hóa của chúng ta, khiến chúng phải làm việc và hoạt động nhiều hơn để tiêu hóa. Điều này hoàn toàn khác khi chúng ta ăn các loại mì tự làm khác.



Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Mối nguy hại của thói quen uống nước ngọt

Nguồn: Dân Trí

Nhiều chị em ăn kiêng không dám ăn tinh bột vì sợ chất bột đường gây béo, trong khi đó ngày lại có thể uống đến cả lon nước ngọt. Uống một lon nước ngọt, tương đương bạn “nạp” 36 gram đường vào cơ thể.

Nạp” dễ, tiêu hao khó

PGS.TS Lê Bạch Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia cho biết, xu hướng sử dụng nước ngọt ngày càng phổ biến ở cả người lớn và trẻ em. Ngày Tết, đại đa số các gia đình mua cả vài thùng nước ngọt, nước ép trái cây lon về nhà. Thói quen này cũng là một trong những nguyên nhân gây béo phì ở cả trẻ em và người lớn. Bởi uống một lon nước ngọt rất dễ, ngon miệng, trong bữa ăn có những người uống cả hơn lon nước vẫn thấy bình thường, không có cảm giác lo sợ bị lên cân như ăn các thực phẩm khác.

Thế nhưng thực tế thì như thế nào? Nước ngọt, bên cạnh lượng đường tự nhiên trong thực phẩm, thường được ép thêm đường glucose hoặc fructose. Những loại đường này cung cấp kcal dễ dàng. Một lon nước ngọt có đến 36g đường. Theo công bố trên nhãn của nhà sản xuất, 100 ml nước ngọt thì tạo ra 42 kcal. Thế nhưng một lon nước ngọt lại thường được đóng hơn 300ml và hầu hết mọi người đều có tâm lý, đã mở ra thì cố uống, bỏ thì tiếc nên lại uống cố, đồng nghĩa với việc sẽ nạp khoảng 140kcal.

“Để uống một lon nước ngọt rất nhanh, nhưng để tiêu thụ được 140kcal no đó đồng nghĩa với việc mất khoảng 60 phút đi bộ”, PGS.TS Lê Bạch Mai cho biết.

Mấu chốt của béo phì, lên cân cũng liên quan chặt chẽ đến loại nước uống này. Trẻ em trong ngày Tết bánh mứt kẹo, đồ ngọt vô tội vạ lại thêm cỡ 2 lon nước ngọt, vận động bao lâu để có thể tiêu hao hết từng đó năng lượng. Còn người lớn, ngoài nước ngọt còn vô số thực phẩm nhiều chất béo khác, vận động thì ít và đây chính là lý do sau Tết chị em thường “phì nhiêu” hơn bình thường.

Không chỉ cung cấp quá nhiều năng lượng mà loại đồ uống này cũng là tác nhân khiến cơ thể đào thải canxi nhiều hơn. Nước ngọt có ga có phân tử CO2 sục vào nước tạo thành H2CO3 - axít cacbonic và để trung hòa môi trường này, cơ thể rút canxi trong xương, răng, sau đó thải ra ngoài qua nước tiểu khiến lượng canxi của người Việt nạp vào đã ít ỏi nay bị tiêu hao nhanh hơn.

Nên hạn chế bánh, mứt, kẹo

Ngày Tết có quá nhiều các loại mứt, bánh kẹo không thích hợp cho người tiểu đường, người có đường máu cao, béo phì, hay người muốn ăn kiêng. Một số loại mứt chứa nhiều loại beta carotene hoặc vitamin A, C như mứt cà chua, cà rốt, táo, mận, kiwi… sẽ bị phân hủy do nhiệt độ và thời gian chế biến mứt quá lâu sẽ làm mất tác dụng của các nhóm vitamin. Do đường nhiều nên mứt tạo ra năng lượng là chính, không cung cấp đủ thành phần dưỡng chất nhất là các vitamin, khoáng chất cho cơ thể so với lúc còn tươi.

Ăn nhiều mứt, bánh kẹo dễ sinh đầy bụng và làm mất cảm giác đói. Nhiều chị em nghĩ mình ăn vài miếng mứt, đầy bụng không ăn bữa chính cũng là ăn kiêng tránh lên cân nhưng “vài miếng mứt” năng lượng cung cấp nhiều khi còn hơn cả 1 bát cơm vì lượng đường có nhiều trong mứt.

Chị Thanh Hải (Hà Đông) cho biết, hôm gặp bạn bè cà phê vui vẻ, chị ăn liền 2 gói mứt sấy khô và đến khi định với gói thứ 3, xem nhãn chị mới giật mình bởi năng lượng cung cấp đến 120kcal trong 100gram. "Buổi chiều hôm đó, mình về nhà mình đi bộ nhanh với tốc độ 6,4km/giờ, độ dốc đến 10 mà phải 30 phút đồng hồ mới tiêu hao được 276kcal. Tiêu hao năng lượng của hai gói mít sấy không dễ tí nào, mồ hồi ướt sũng, thở không ra hơi trong khi lúc ăn thì vèo cái hết cả gói", chị Hải cho biết.



Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

Ảo vọng ăn chay - Chương 4 phần 3: Tác hại của đậu tương với sức khỏe

Tác giả: Lierre Keith
Nguồn: Sách The Vegetarian Myth

Không một thảo luận nào về ăn chay có thể đầy đủ nếu không nói đến đậu tương. Đậu tương từng được tung hô là giải pháp cho mọi thứ từ chứng triều nhiệt của phụ nữ mãn kinh cho đến nạn đói của thế giới. Các tập đoàn nông nghiệp đã làm mọi cách để chúng ta tin rằng đậu tương có lợi cho sức khỏe – ADM tiêu 4,7 triệu đôla để mua thời lượng quảng cáo trên chương trình truyền hình Gặp gỡ báo chí (Meet the Press), và 4,3 triệu đôla cho chương trình Nói chuyện với cả nước (Face the Nation) – mặc dù cho tới gần đây, chưa có ai từng ăn những thứ sản phẩm công nghiệp đang được bán cho tất cả mọi người trên khắp Hoa Kỳ, từ người già cho đến trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh.

Đậu tương là một cây họ đậu từng được trồng xen canh với các vụ cây ngắn hạn khác trên khắp châu Á. Bởi vì nó có thể giữ nitơ từ không khí, đậu tương được dùng như một loại phân xanh. Những chữ tượng hình của Trung Quốc cho lúa mạch, kê, gạo và lúa mì vẽ phần hạt của chúng, bởi vì phần ăn được là quan trọng. Chữ tượng hình cho đậu tương vẽ phần rễ, bởi vì nó được trồng chỉ để giữ đất chứ không phải để ăn. Đậu tương chứa nhiều chất phản dinh dưỡng đến nỗi nó không thể ăn được nếu không qua rất nhiều khâu xử lý, nhiều hơn nhiều so với các loại hạt khác.

Đầu tiên, đậu tương chứa những chất ức chế trypsin. Trypsin, như bạn vẫn nhớ, là một enzyme tiêu hóa sản xuất bởi tuyến tụy. Đấy là lý do tại sao ăn đậu tương gây đầy hơi, đau bụng và tiêu chảy. Lên men đậu tương sẽ làm vô hiệu hóa hầu hết các chất ức chế trypsin. Trong một nghiên cứu thực hiện trên 50 nền văn hóa châu Á, những dân tộc tìm được cách vô hiệu hóa các chất ức chế trypsin là những dân tộc duy nhất coi đậu tương là thứ ăn được. Tương miso của Nhật Bản, món được lên men rất kỹ, bắt đầu được ăn vào khoảng giữa thế kỷ 2 trước công nguyên và thế kỷ 4 sau công nguyên. Đậu phụ, món không được lên men, được phát minh vào năm 164 trước công nguyên, và tempeh, một món cũng được lên men, được sáng chế vào những năm 1600. Các nhà sư ăn đậu phụ vì nó giúp họ giữ lời thề tiết chế tình dục: chất phytoestrogen trong đậu tương làm giảm nồng độ testoterone và ham muốn tình dục của họ. “Ngoại trừ trong nạn đói,” chuyên gia về đậu tương Kaayla Davis viết, “đậu phụ được dùng như một món ăn thêm, ăn với lượng nhỏ, thường là cùng với canh cá, chứ không phải là món chính.” Người Trung Quốc chỉ dùng đậu tương làm nguồn protein chính khi họ đang chết đói – khi mà họ ăn cả con cái họ.

Canh cá là một chi tiết quan trọng trong câu chuyện về đậu tương. Nếu bạn chịu được những cơn đau bụng gây ra bởi chất ức chế trypsin, vấn đề tiếp theo với đậu tương là phytat. Phytat, bạn nhớ không, liên kết với các chất khoáng trong đường tiêu hóa khiến bạn không hấp thụ được chúng. Đậu tương có nồng độ phytat cao đến mức không một phương pháp ngâm hay lên men nào có thể loại trừ hết chúng. Bạn có thể thấy sự khôn ngoan trong việc ăn đậu phụ cùng canh cá, vì canh cá cung cấp một lượng lớn các chất khoáng để bù lại ảnh hưởng của phytat.



Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Tầm quan trọng của chất béo với bộ não

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 25: Tầm quan trọng của chất béo với bộ não


Bộ não là cơ quan tốn kém nhất về mặt năng lượng trong cơ thể. Nó chỉ chiếm 5% khối lượng cơ thể, nhưng dùng ít nhất 20% – 30% tổng năng lượng cung cấp cho cơ thể để thỏa mãn nhu cầu của nó. Nhiều người nghĩ rằng bộ não cần glucose để có lượng năng lượng này, nhưng rất ít người biết rằng thực ra bộ não thích ketone, một hợp chất chứa năng lượng tạo ra từ mỡ, làm nguồn năng lượng chính hơn!


Bộ não có thể dùng glucose, đặc biệt là khi người đó ăn chế độ ăn gồm chủ yếu là carbohydrat hoặc trong trường hợp khẩn cấp. Nhưng trong điều kiện bình thường hàng ngày, glucose không cần thiết cho bộ não như mọi người vẫn thường nghĩ. Khi không có carbohydrat và một khi đã thích nghi về mặt chuyển hóa chất, bộ não dễ dàng sử dụng ketone làm nguồn năng lượng chính.

Bộ não dùng ketone trong trạng thái ketosis. Sử dụng ketone trong não là phổ biến ở trẻ sơ sinh nuôi bằng sữa mẹ giàu chất béo. Sự chuyển đổi sang phụ thuộc vào carbohydrat chỉ xảy ra khi carbohydrat được đưa vào chế độ ăn của trẻ. Những enzyme chịu trách nhiệm chuyển hóa ketone, d-beta-hydroxybutyrate dehydrogenase, acetoacetate-succinyl-CoA transferase, acetoacetyl-CoA thiolase, có đủ trong não để chuyển hóa ketone thành acyl-CoA và đưa nó vào chu trình tricarboxylic acid ở tốc độ phù hợp để thỏa mãn nhu cầu năng lượng của bộ não. Khả năng sử dụng ketone trong não tỷ lệ thuận với trạng thái ketosis của cơ thể.

Cơ thể ưu tiên đốt đường trước mỗi khi nồng độ đường huyết tăng quá mức, chủ yếu để loại bỏ chất tai hại đó khỏi cơ thể bằng mọi cách có thể. Glucose cũng còn được dùng làm nguồn năng lượng chủ yếu cho bộ não khi nó đột nhiên có nhu cầu năng lớn, ví dụ như trong tình trạng khẩn cấp. Lượng carbohydrat dự trữ trong gan dưới dạng glycogen luôn sẵn sàng cho trường hợp đó. Không một ai cần ăn carbohydrat để có đủ glucose cho não hay cơ thể dùng. Không bao giờ.

Trên thực tế, dùng hoàn toàn glucose làm nguồn năng lượng chính cho bộ não và cơ thể là trái tự nhiên và có hại. Không may đây là trạng thái của tuyệt đại đa số mọi người. Các tế bào não không chịu tác động nhiều bởi insulin và do đó bị ảnh hưởng từ quá trình glycation và ôxy hóa của các gốc tự do do glucose tạo ra hơn bất cứ mô nào khác trong cơ thể. Không có cái gọi là mức độ an toàn của glucose. Glucose và các loại đường khác như fructose luôn luôn gây ra quá trình glycation và tạo ra các gốc tự do. Không gì có thể thay đổi điều đó. Mặc dù chúng ta cần glucose ở một mức độ nhất định để cung cấp năng lượng cho các tế bào hồng huyết cầu, glucose là nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến sự thoái hóa và cái chết của chúng ta. Tuy vậy, chúng ta có thể kiểm soát mức độ glycation và thoái hóa, thông qua việc lựa cho ăn gì.


Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Nuôi dưỡng bộ não cho đúng

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 24: Nuôi dưỡng bộ não cho đúng


Những nghiên cứu mới nhất cho thấy yếu tố ăn uống có vai trò quan trọng trong việc quyết định bộ não ở tuổi già vẫn minh mẫn hay phải chịu một trong những căn bệnh thoái hóa thần kinh.

Tiến sĩ Mark P. Mattson, “Tương tác giữa chế độ ăn và gen trong sự già đi của não bộ và các hội chứng thoái hóa thần kinh,” Tạp chí Nội Y học (Annals of Internal Medicine), 2003

Quan niệm sai lầm thông thường là có sự tách biệt giữa tâm trí và cơ thể. Trên thực tế, không có sự tách biệt lớn nào giữa tâm trí và cơ thể. Điều gì xảy ra với một cái cũng xảy ra với cái kia. Cả hai thuộc về cùng một hệ thống, hoạt động tốt hoặc hư hỏng cùng nhau. Bạn không thể có hoạt động nhận thức và tâm lý khỏe mạnh mà không có một cơ thể khỏe mạnh, được nuôi dưỡng hợp lý (Lần cuối cùng tôi kiểm tra, bộ não là một phần của cơ thể con người – ít nhất là ở hầu hết mọi người). Ngay cả những phương pháp trị liệu tâm lý hay thuốc an thần tốt nhất cũng không thể mang lại một chất dinh dưỡng bị thiếu hay loại trừ một chất độc đang ở trong bộ não. Những thứ đó còn lâu mới có thể bù lại một chế độ ăn không đúng mực.

Nguy cơ suy giảm trong chức năng nhận thức và khả năng học hành ở học sinh trung học tăng 400% nếu bị nhạy cảm với gluten.
M. Verkasalo, “Bệnh celiac thầm lặng không được chẩn đoán: Một nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng học hành,” Tạp chí Vị tràng học Scandinavia (Scandinavian Journal of Gastroenterology), 2005
Bộ não và cơ thể cần một số nguyên liệu thô để hoạt động. Chấm hết. Không có đầy đủ những nguyên liệu thô phù hợp, không một hình thức trị liệu nào có thể có kết quả tối ưu hay lâu dài. Những chất độc nhận vào hàng ngày, dù là đường hay bột, gluten, rượu bia, kim loại nặng, mì chính, xenoestrogen, thực vật biến đổi gen, hay chất ô nhiễm, không thể được bù lại bằng bất cứ hình thức trị liệu tâm lý hay bằng cách nhồi thêm chất độc mới dưới hình thức thuốc kê đơn. Thêm vào đó, tất cả các chất truyền dẫn thần kinh có các thụ cảm tương ứng ở tất cả mọi cơ quan và hệ thống trong cơ thể. Trong số gần 300 chất truyền dẫn thông tin trong cơ thể, gần như tất cả ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể chứ không phải chỉ giới hạn ở bộ não. Ngay cả các nơron cũng không giới hạn trong não bộ. Chúng tồn tại với số lượng lớn ở nhiều nơi khác trong cơ thể.

Tâm trí (bao gồm cả trí nhớ và tình cảm) không chỉ nằm trong bộ não; tâm trí tồn tại như một “trường” xuyên khắp cơ thể con người! Cái gì ảnh hưởng đến tâm trí sẽ ảnh hưởng đến cơ thể, và ngược lại. Bạn không thể tách rời hai thứ.


Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

Chất xơ có phải một carbohydrat không thể thiếu không?

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 18: Chất xơ có phải một carbohydrat không thể thiếu không?


Ngày 20/1/1999, chương trình ABC World News Tonight (Tin tức thế giới tối nay của đài ABC) với người dẫn chương trình Peter Jennings tường thuật rằng một nghiên cứu quy mô lớn mới được công bố cho thấy chất xơ hoàn toàn “vô dụng” trong việc giúp phòng ngừa ung thư đại tràng. Nghiên cứu này vừa được công bố trong Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine). Nó cho thấy rằng chất xơ, từng được coi là thần dược để phòng tránh ung thư đại tràng và củng cố sức khỏe đại tràng, hoàn toàn không có tác dụng bảo vệ. Vâng, bạn nghe đúng đấy. Nghiên cứu khổng lồ trên 88.000 người trong vòng 16 năm đó kết luận một cách chắc chắn rằng ăn một chế độ ăn nhiều chất xơ không có chút tác dụng nào trong việc phòng tránh ung thư đại tràng.

Tờ Thời báo New York có dòng tít tương tự “Nghiên Cứu Cho Thấy Chất Xơ Không Giúp Phòng Tránh Ung Thư Đại Tràng”. Giả thuyết này được đưa ra bởi bác sĩ kiêm nhà truyền giáo người Anh, Denis P. Burkitt, người từng nghiên cứu một số dân tộc có vẻ không bị ung thư đại tràng ở châu Phi và phỏng đoán rằng chế độ ăn giàu chất xơ là yếu tố hỗ trợ. Giả thuyết này đã bị bác bỏ vĩnh viễn một cách thuyết phục bởi nghiên cứu trên. Tờ Thời báo New York viết, “Ông lan truyền giả thuyết của mình như một chân lý về dinh dưỡng, khiến hàng triệu người nghe theo mà thay đổi chế độ ăn của họ. Giờ đây, một nghiên cứu lớn nhất từng được tiến hành về chủ đề này đã kết luận rằng, ít nhất là đối với phòng tránh ung thư đại tràng, tất cả những thứ ngũ cốc, rau hoa quả ấy không có tác dụng gì.” Tác giả chính của nghiên cứu này, Walter Willett, giáo sư tiến sĩ dinh dưỡng và dịch tễ học tại khoa Sức khỏe Cộng đồng trường đại học Harvard, tuyên bố, “Giả thuyết rằng chất xơ là yếu tố quan trọng trong việc giảm nguy cơ ung thư đại tràng có vẻ lý thú, nhưng thực tế là dữ liệu nghiên cứu không ủng hộ nó chút nào.” Ông nói tiếp, “Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu dài nhất từng được tiến hành, và chúng tôi xem xét nhiều khía cạnh của chế độ ăn. Chúng tôi xem xét cả u hạch và ung thư đại tràng và không có chút gì ủng hộ ý tưởng rằng chất xơ làm giảm nguy cơ ung thư.”

Bạn có thể nghĩ tất cả những cái đó sẽ làm thay đổi khuyến nghị về dinh dưỡng của các bác sĩ. Nhưng có vẻ tất cả bọn họ đều không xem bản tin tối hôm đó và cũng không đọc báo vào sáng hôm sau. Câu truyện cổ tích rằng chất xơ giúp phòng tránh ung thư đại tràng vẫn tiếp tục được truyền bá, ngay cả khi ngũ cốc giàu chất xơ đã nhiều lần được chứng minh là có liên quan đến nhiều chứng bệnh đường ruột, bao gồm cả ung thư đại tràng.


Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Carbohydrat - Con đường dẫn đến bệnh tiểu đường loại 2

Tác giả: Nora Gedgaudas


Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 15: Carbohydrat - Con đường dẫn đến bệnh tiểu đường loại 2 

Insulin được biết đến như một hooc-môn dự trữ mỡ. Nó được kiểm soát bởi leptin, tuy nhiên các ảnh hưởng từ chế độ ăn tác động lên insulin và leptin theo cùng một cách, và mọi người thường trở nên 'nhờn' với các tín hiệu của cả insulin và leptin. Carbohydrat như đường và tinh bột - chứ không phải protein và mỡ - là những loại thực phẩm chính kích thích giải phóng insulin và gây ra những đợt dâng trào leptin gây hại cho sức khỏe. Điều này làm rối loạn các kênh liên lạc hooc-môn và làm cơ thể bị kháng hooc-môn.

Hầu hết lượng mỡ không muốn có trong cơ thể đến từ đường và tinh bột trong thực phẩm. Hooc-môn glucagon cho phép cơ thể đưa mỡ ra khỏi kho dự trữ và dùng làm nhiên liệu. Tuy nhiên glucagon không hoạt động khi có mặt insulin. Nếu bạn tiếp tục ăn nhiều carbohydrat khiến insulin tiếp tục được tiết ra, glucagon không thể hoạt động và mỡ của cơ thể không thể được đốt làm nhiên liệu.

Mỡ trong cơ thể không thể được đốt làm nhiên liệu chừng nào insulin còn có mặt. (Lặp lại đến khi nào bạn nhớ!)

Một nghiên cứu kéo dài 12 tuần ở Thụy Điển so sánh tác dụng của chế độ ăn nguyên thủy (rất ít carbohydrat) với cái gọi là chế độ ăn Địa Trung Hải bao gồm ngũ cốc nguyên hạt, sữa ít béo, hoa quả, rau và chất béo không bão hòa. (Chế độ ăn thực sự ở vùng Địa Trung Hải không giống thế chút nào). Sau 12 tuần, nồng độ đường huyết tối đa của những người tình nguyện giảm 26% nếu họ ăn chế độ ăn nguyên thủy, và chỉ 7% với cái gọi là chế độ ăn Địa Trung Hải.

Tiểu đường không phải là một căn bệnh về đường huyết mà là về insulin. Nồng độ đường huyết cao là biểu hiện của bệnh tiểu đường, nhưng không phải nguyên nhân. Nguyên nhân của bệnh tiểu đường là chế độ ăn quá nhiều carbohydrat, dẫn đến giải phóng quá nhiều insulin và leptin khiến các kênh liên lạc hooc-môn bị hư hỏng. Tăng cường insulin cho các bệnh nhân tiểu đường loại 2 chính là làm hại họ về lâu dài, mặc dù tạm thời họ có thể “cải thiện” nồng độ đường huyết. Đây là một phương pháp hoàn toàn sai lầm. Nồng độ insulin và leptin cao có liên quan chặt chẽ, hay thậm chí còn là một trong những nguyên nhân trực tiếp, của bệnh tim mạch, đột quỵ, huyết áp cao, ung thư, béo phì và nhiều căn bệnh khác nữa.


Do hầu hết các bệnh nhân tiểu đường loại 2 được điều trị bằng các thuốc làm tăng insulin hay trực tiếp tiêm insulin, kết quả bi thảm là những phương pháp chữa trị thông thường đó góp phần gây ra các tác dụng phụ và tuổi thọ bị rút ngắn mà những bệnh nhân tiểu đường loại 2 thường gặp.
Ron Rosedale, M.D., “Tiểu Đường Không Phải Là Căn Bệnh Về Đường Huyết”


Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Vai trò của Carbohydrat trong Cơ thể

Carbohydrat
Ngoại trừ chất xơ, tất cả carbohydrat đều biến thành đường sau khi tiêu hóa

Tác giả: Nora Gedgaudas
Nguồn: Primal Body, Primal Mind

Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 13: Vai trò của carbohydrat trong cơ thể

Lượng đường trắng tiêu thụ hàng năm ở Hoa Kỳ:

  • 1750: 1,8 kg một người, một năm
  • 1850: 9,1 kg một người, một năm
  • 1994: 54 kg một người, một năm
  • 1996: 73 kg một người, một năm
Theo Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế của Bộ Nông nghiệp Mỹ, lượng đường tiêu thụ trên toàn cầu tiếp tục gia tăng khoảng 2% mỗi năm, và dự tính vào năm 2007 sẽ đạt khoảng 154 triệu tấn. Lưu ý: Con số này chưa bao gồm các loại đường hóa học công nghiệp khác như High Fructose Corn Syrup (HFCS) (đường hóa học làm từ ngô có nồng độ fructose cao).

HFCS hiện được ước tính là nguồn calo hàng đầu trong chế độ ăn người Mỹ! Sự gia tăng trong tỷ lệ béo phì, bệnh tim, ung thư và tiểu đường trùng khớp hầu như hoàn toàn với sự ra đời của HFCS gần 30 năm trước. Trung bình mỗi người bây giờ tiêu thụ 150 gam đường mỗi ngày. Một nửa trong số đó là fructose (đường tinh được tạo thành từ một nửa glucose và một nửa fructose). Con số này gấp 3 lần mức có thể gây ra rối loạn sinh hóa trong cơ thể. Cơ thể chúng ta hoàn toàn không có khả năng tự vệ chống lại cơn lũ này. 90% tiền mua thực phẩm của dân Mỹ hiện nay được dùng để mua thực phẩm chế biến sẵn, và HFCS (loại đường độc hại nhất trong tất cả) có mặt trong gần như tất cả mọi sản phẩm thực phẩm chế biến sẵn. Xin nhớ cho là những con số đường tiêu thụ này là trung bình và nhiều người tiêu thụ hơn gấp đôi con số đó. Dựa trên ước tính mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ năm 2011, một người Mỹ trung bình tiêu thụ 12 thìa đường mỗi ngày, tương đương với gần 2 tấn đường trong cả đời (hình dung một cái xe tải cá nhân loại lớn chở đầy đường). Nếu bạn muốn có một hình ảnh về lượng đường tiêu thụ trung bình trong một năm, hình dung một cái xe đẩy một bánh loại lớn, đầy có ngọn.

Tất cả các con số trên đều chưa bao gồm lượng đường trong chế độ ăn của chúng ta từ những nguồn tinh bột khác - bánh mì, mì ống, ngũ cốc, khoai tây, gạo - hay những cái gọi là đường “tự nhiên” như mật ong, mật, hay đường chuyển hóa từ lượng protein ăn vào nhiều hơn mức cần thiết của cơ thể. Khi tất cả chúng thực sự được cộng lại, chúng ta sẽ phải kinh ngạc tại sao nạn dịch béo phì, tiểu đường, ung thư và bệnh tim (đó mới chỉ là một số căn bệnh liên quan đến đường) lại không tồi tệ hơn nhiều so với mức độ hiện nay. Tổ tiên của chúng ta thậm chí trong mơ cũng không thể hình dung được sự điên rồ này.



Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Tiêu hóa và Hấp thụ Dinh dưỡng

Tác giả: Nora Gedgaudas
Nguồn: Primal Body, Primal Mind

Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy

Chương 5: Tiêu hóa và Hấp thụ Dinh dưỡng

Bạn có thể ăn những thực phẩm đắt nhất, tốt nhất từng có trên thế gian này mà vẫn bị bệnh tật hay sức khỏe kém. Làm sao có thể như vậy được? Một yếu tố cực kỳ quan trọng là sự tiêu hóa. Nếu bạn không thể phân tách và hấp thụ những gì bạn ăn, bạn chỉ tiêu tốn tiền mua thức ăn mà thôi. Tồi tệ hơn nữa, bạn đang tạo ra những hỗn hợp ứ đọng, lên men và độc hại trong hệ thống tiêu hóa có thể làm rối loạn mọi cơ quan và hệ thống khác trong cơ thể bạn. Không thể nhấn mạnh quá mức tầm quan trọng của một hệ thống tiêu hóa tốt, vậy mà đây lại là chủ đề thường bị bỏ qua khi bàn về một chế độ ăn lành mạnh. Mọi bộ phận khác của cơ thể và tâm trí đều phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống tiêu hóa để nhận được những chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động bình thường.

Tiêu hóa kém là một vấn đề đã trở thành đại dịch, một điều mà lượng thuốc ức chế acid dạ dày được tiêu thụ hay số ca phẫu thuật cắt bỏ túi mật hay ruột thừa ngày một tăng đang chứng tỏ. Jonathon Wright, M.D., sau khi dùng thiết bị nội soi để đo độ pH dạ dày của hàng ngàn bệnh nhân, đã ước tính rằng khoảng 90% người Mỹ sản xuất quá ít acid hydrochloric. Hậu quả của điều này là cực kỳ to lớn.

Việc thiếu acid hydrochloric trong dạ dày dẫn đến nhiều vấn đề khá nghiêm trọng:

  1. Tiêu hóa và hấp thụ kém những protein và amino acid cần thiết cho hơn 50.000 chức năng khác nhau trong cơ thể, như sản xuất các chất truyền dẫn thần kinh để điều hòa tâm trạng; sửa chữa và tái tạo các tế bào, cơ quan nội tạng, xương, cơ; và nhiều chức năng không thể thiếu khác.
  2. Hấp thụ kém những khoáng chất thiết yếu như canxi, magiê, phốt-pho, boron, sắt và kẽm. Vấn đề càng nghiêm trọng hơn nữa khi mà cơ thể cần kẽm để sản xuất acid hydrochloric. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn có thể dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng những khoáng chất cực kỳ quan trọng này và tất cả các hậu quả kèm theo của nó.
  3. Sự sản xuất acid hydrochloric kém bởi dạ dày còn khiến vitamin B12 được hấp thụ kém. Đây là một chất tối cần thiết cho sức khỏe của hệ thần kinh. Vitamin B12 là một chất cho methyl quan trọng, cần thiết cho hoạt động bình thường của não bộ và hệ thống tim mạch. Chúng ta cũng dùng nó để sản xuất các tế bào huyết cầu. Tình trạng thiếu vitamin B12 kéo dài có thể dẫn đến những tổn hại thần kinh không phục hồi được, rối loạn tinh thần, nhận thức và mất trí nhớ, cũng như bệnh thiếu máu và bệnh tim. Một bức tranh không đẹp đẽ cho lắm!
  4. Hỗn hợp thối rữa không được tiêu hóa trong dạ dày (xin lỗi đã phải dùng từ mang tính hình tượng như vậy) gây rối loạn trong các bộ phận khác của hệ thống tiêu hóa. Nó bị lên men, sinh ra khí và biểu hiện ra ngoài thành các triệu chứng ợ nóng, đầy hơi và trung tiện. Nó kích thích và gây sưng tấy trong ruột non. Điều này có thể dẫn đến sự bào mòn của các lông nhung và dẫn đến cái gọi là hội chứng rò ruột (leaky gut syndrome), một trạng thái siêu thẩm thấu của niêm mạc ruột non, thông qua đó các protein chưa được tiêu hóa có thể đi vào mạch máu. Những protein này sẽ bị hệ thống miễn dịch của cơ thể coi như kẻ địch, gây ra nhạy cảm và dị ứng với nhiều thực phẩm và về lâu dài dẫn đến các rối loạn tự miễn.
  5. Mẫn cảm hơn với ký sinh trùng và các bệnh từ thực phẩm khác.


Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Tác hại của Gluten trong ngũ cốc



Tác giả: Nora Gedgaudas


        Cơ thể nguyên thủy, tâm trí nguyên thủy
        Chương 3: Tác hại của Gluten trong ngũ cốc

        [Chú thích: Trong bài này nói nhiều đến bệnh tự miễn. Wikipedia định nghĩa bệnh tự miễn là "phản ứng miễn dịch của cơ thể chống lại một chất hoặc mô ở trong cơ thể. Nói một cách khác, hệ thống miễn dịch nhầm một phần của chính cơ thể là kẻ địch và tấn công chính nó." Cũng trong bài này trên Wikipedia liệt kê một danh sách không đầy đủ gồm 173 bệnh tự miễn, bao gồm những bệnh thường gặp như thấp khớp, tiểu đường loại I, bệnh celiac, tâm thần phân liệt, một số loại ung thư, viêm gan, viêm da.]

        Ngũ cốc và các hạt họ đậu thường chứa một chất gọi là acid phytic với nồng độ rất cao. Acid phytic dễ dàng liên kết với các chất khoáng và hợp chất muối trong quá trình tiêu hóa và sau đó bị loại khỏi cơ thể. Do mức tiêu thụ ngũ cốc cao trong cộng đồng, điều này dẫn đến sự thiếu hụt chất khoáng rộng rãi, bao gồm canxi, sắt, magiê và kẽm. Các hạt họ đậu thường chứa tới 60% tinh bột và chỉ một lượng nhỏ protein không hoàn chỉnh. Chúng còn chứa những chất ức chế hấp thụ protein khiến khả năng tiêu hóa và sử dụng protein trong thực phẩm của cơ thể bị suy giảm. Nếu ai sử dụng chúng làm nguồn calo chính trong thời gian dài, tuyến tụy có thể bị tổn hại.

        Ngũ cốc và các hạt họ đậu chứa các chất goitrogen, những chất ức chế hoạt động tuyến giáp, và những “protein ngoại lai” như gluten và gliadin. Những protein này là nguyên nhân cực kỳ phổ biến của các chứng dị ứng và nhạy cảm với nhiều loại thực phẩm, và có thể dẫn tới các rối loạn cả về thể chất, trí não và tinh thần, ngay cả khi những phương pháp sơ chế tốt nhất được áp dụng. Một giả thuyết nữa cho rằng sự thiếu hụt một loại amino acid tối cần thiết tên là L-tryptophan trong ngũ cốc, thứ hiện nay được dùng làm thực phẩm chủ yếu cho gia súc và gia cầm (đấy là chưa kể đến người), có thể giải thích chứng thiếu hụt serotonin, trầm cảm, lo âu và một số rối loạn thần kinh rộng rãi khác trong dân chúng. Nói chúng, việc ăn nhiều carbohydrat (tinh bột) trong thời gian dài, làm cạn kiệt nguồn dự trữ serotonin và các vitamin B của cơ thể. Các vitamin B này cần để chuyển hóa amino acid thành nhiều chất truyền dẫn thần kinh cần thiết trong cơ thể.

        Việc sơ chế những thực phẩm này bằng cách ngâm, làm nảy mầm hay lên men có thể hạn chế hoặc loại trừ acid phytic và một số chất phản dinh dưỡng khác. Tuy nhiên, những thực phẩm này vẫn chứa lượng carbohydrat rất cao. Nhiều ngũ cốc còn chứa một loại protein cực kỳ tai hại hiện đang là nguyên nhân của những vấn đề sức khỏe trầm trọng cho hàng triệu người: gluten.

        Ngũ cốc không phải là một loại thực phẩm cần thiết cho con người. Thêm vào đó, chúng còn gây ra quá nhiều vấn đề về sức khỏe do lượng gluten và các chất phản dinh dưỡng chứa bên trong, cùng sự thiếu hụt L-trytophan, nồng độ chất béo omega-6 cao và hàm lượng tinh bột lớn, cũng như các nguy cơ dẫn đến các chứng dị ứng và nhạy cảm thực phẩm thứ cấp. Do vậy, với bất cứ ai muốn có sức khỏe tốt, không có lý do gì để ăn ngũ cốc cả.


        Trên thực tế, ăn càng ít ngũ cốc càng tốt. Không ăn chút nào là tốt nhất.


        Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

        Ảo vọng ăn chay - Chương 4 phần 2: Tầm quan trọng của mỡ béo

        Tác giả: Lierre Keith
        Nguồn: The Vegetarian Myth

        Hãy Biết Về Chất Béo Của Bạn (Know Your Fats), tựa đề cuốn sách của tiến sĩ Mary Enig kêu gọi. Tôi ước có thể có một khẩu hiệu dễ nghe hơn. Chúng ta cần một khẩu hiệu như vậy. Chúng ta cần một cái gì đó để chống lại những thế lực đang hợp sức làm hại cơ thể chúng ta, và hành tinh của chúng ta. Những thế lực này cuối cùng hóa ra đều là một. Nhận thức đó là vết rạn đầu tiên trong thế giới quan ăn chay của tôi và dẫn đến những mâu thuẫn cơ bản bên dưới. Tôi không trồng được những thực phẩm tôi ăn – đậu, gạo, lạc. Chúng từ đâu đến? Những người trồng những thứ đó có cần chúng không? Tôi có quyền gì để ăn chúng? Tôi tự xoa dịu bản thân với những con số về lượng ngũ cốc mà gia súc cần nếu tôi ăn thịt chúng thay vì ăn chay. Khi đó tôi biết thế giới tư bản phát triển đang bóc lột về mặt kinh tế các nước kém phát triển hơn. Tôi biết chết đói là một cách chết rất đau đớn, cũng như bị lột da sống ở các lò mổ. Ngoài những điều đó ra, tất cả những gì tôi biết là sự lựa chọn giữa ăn chay và những thứ tồi tệ hơn nhiều: tra tấn, sát sinh. Trước tuổi 20, tôi đã hiểu nông nghiệp với những vụ ngũ cốc ngắn ngày sẽ dẫn đến sự hủy diệt của thế giới này. Nhưng ngoài cái đó ra còn có lựa chọn nào khác? Tôi muốn tất cả chúng ta đều có cái để ăn. Tôi muốn tất cả phụ nữ được giải phóng và tôi muốn tất cả động vật được giải phóng. Tôi muốn thấy một thế giới xanh tươi tràn đầy sự sống. Những người ăn chay nói rằng họ có thể đưa chúng ta đến thế giới đó, rằng ăn thịt là một thói xấu đang giết chết chúng ta và hành tinh này. Không còn lựa chọn nào khác, tôi đã nhắm mắt đưa chân theo họ.

        Và tôi đã đói. Lúc nào cũng đói. Bạn có thể ăn rất nhiều calo mà vẫn bị suy dinh dưỡng trầm trọng. Để tiếp tục ăn chay, tôi đã phải chiến đấu với cái đói, một điều mà tôi không bao giờ thừa nhận, đặc biệt là với bản thân, khi tôi vẫn đang ăn chay. Nếu lúc đó tôi đối mặt với cái thèm ăn ấy, liệu tôi có phải dừng ăn chay không? Liệu chủ nghĩa nữ quyền trong tôi, cái vẫn đòi hỏi tôi phải trân trọng cơ thể phụ nữ của tôi, có bắt tôi phải ngừng ăn chay không – đặc biệt là khi cái đói là một trong những hình phạt chính mà chế độ phụ hệ áp dụng lên phụ nữ chỉ vì họ là phụ nữ? Tôi là người chống lại sự hành hạ phụ nữ, chứ không phải là người tham gia, ít nhất là không tham gia một cách sẵn lòng.

        Thay vì đối mặt với tất cả những điều đó, tôi chối bỏ cái đói trong tôi, rồi quên nó đi. Quá trình đó không phải chỉ diễn ra trong một đêm: sự thiếu hụt dinh dưỡng, các thụ thể insulin mệt mỏi vì làm việc quá sức, sức sống mất dần, sự đau đớn. Những đợt tụt đường huyết ngày càng trở nên tồi tệ hơn, cho đến khi cuối cùng tôi phải ăn gần như liên tục thì mới khỏi cảm thấy như mình sắp chết đến nơi. Dĩ nhiên là chỉ ăn carbohydrate, bởi vì đó là tất cả những gì tôi tự cho phép mình, và điều đó chỉ đảm bảo mang lại một cơn tụt đường huyết mới. Thịt là điều cấm kỵ tuyệt đối đến mức cơn thèm protein của tôi bị coi là một tội ác gần giống như tội ác diệt chủng. Nhưng cái tôi thèm nhất là chất béo. Chất béo thực sự. Không phải thứ dầu thực vật tôi vẫn rán đậu phụ trong đó, mà là chất béo thực sự: chất béo bão hòa, mỡ.

        Sau khi tôi ăn chay được hai năm – hai năm trong đó không một phân tử mỡ động vật nào đi vào người tôi – mẹ tôi đặt một bát kem chua lên bàn: kem chua cùng với pho-mát và một chút hương vị.

        Tôi nhìn chằm chằm vào cái bát ấy. Tôi không thể rời mắt khỏi nó. Và tôi nhận ra rằng không gì có thể ngăn tôi khỏi ăn bát kem chua ấy. Không một thứ gì trong đầu tôi, không một con số, một hình ảnh nào có thể ngăn được thôi thúc sinh học ấy. Tôi ăn. Tôi nhớ lại lúc đó tôi không suy nghĩ gì cả: thực sự không một ý nghĩ nào. Chỉ có cơn đói và sự thỏa mãn cơn đói.



        Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

        Ảo vọng ăn chay - Chương 4 phần 1: Con người được thiết kế để ăn thịt

        Chế độ ăn nguyên thủy
        Nguồn: The Vegetarian Myth
        Tác giả: Lierre Keith

        Chương 4: Ăn chay vì dinh dưỡng

         
        Bắt đầu với châu Phi bảy triệu năm trước đây, bởi vì đó là nơi con người bắt đầu. Khí hậu bắt đầu chuyển từ ẩm ướt sang khô hanh. Các cây to nhường chỗ cho cỏ, và thảo nguyên bắt đầu phủ đầy khắp thế giới. Được nuôi dưỡng bởi cỏ là những động vật ăn cỏ lớn. Hai mươi lăm triệu năm trước, trong sự đa dạng của quá trình tiến hóa, một số cây tìm cách phát triển từ gốc thay vì từ ngọn. Động vật ăn lá sẽ không giết chết những cây này; ngược lại là đằng khác. Nó giúp cây phát triển bằng cách kích thích rễ phát triển. Tất cả cây cối đều cần nitơ và các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa, và động vật ăn cỏ có thể cung cấp những thứ đó cho cỏ trong lúc chúng ăn cỏ. Đấy là lý do tại sao, không giống như những cây khác, cỏ không chứa hóa chất độc nào, cũng như không có những cơ chế tự vệ cơ học như gai hay cành cứng để ngăn cản động vật. Cỏ muốn bị ăn. Chính cỏ là thứ tạo ra bò. So với cỏ, sự thuần hóa của con người chỉ có một ảnh hưởng rất nhỏ lên hệ gen của bò, và bò cho lại con người gen dung nạp lactose.

        Tổ tiên của chúng ta sống trên cây, cho đến khi cây bắt đầu biến đi. Chúng ta có hai lợi thế về mặt tiến hóa để giúp chúng ta vượt qua khó khăn này: ngón tay cái tách ra và hệ thống tiêu hóa ăn tạp. Chúng ta có khả năng thao tác công cụ và chúng ta có một cơ thể được trang bị cả bản năng và hệ thống tiêu hóa để xử lý một loạt các loại thực phẩm khác nhau. Một số động vật chỉ ăn một loại thực phẩm: koala chỉ ăn lá bạch đàn, và ong bắp cày chỉ ăn trên cây vả. Ăn chỉ một loại thực phẩm là một canh bạc; nếu nguồn thức ăn của bạn mất đi, bạn cũng biến đi cùng nó. Nhưng bộ não, cơ quan đòi hỏi rất nhiều năng lượng, ở động vật ăn một loại thực phẩm không cần lớn lắm, và năng lượng dư ra có thể dùng cho các hoạt động khác.

        Không kể sô-cô-la, con người không phải là động vật chỉ ăn một loại thực phẩm. Trước khi chúng ta trở thành người, khi chúng ta còn sống trên cây, chúng ta ăn chủ yếu hoa quả, lá cây và côn trùng. Nhưng từ thời điểm chúng ta đứng thẳng, chúng ta ăn chủ yếu động vật ăn cỏ lớn. Bốn triệu năm trước, người vượn phương Nam, tổ tiên của chúng ta, đã ăn thịt.


        Đã có lúc người ta tin rằng người vượn phương nam ăn hoa quả. Điểm khác biệt giữa người vượn phương nam và người hiện đại được cho là khả năng ăn thịt. Nhưng những chiếc răng của bốn bộ xương ba triệu năm tuổi trong một hang động ở Nam Phi kể lại một câu chuyện khác. Các nhà nhân chủng học Matt Sponheimer và Julia Lee-Thorp tìm thấy carbon-13 trong lớp men răng của những bộ xương này. Carbon-13 là một đồng vị ổn định có ở hai nơi: cỏ và cơ thể những động vật ăn cỏ. Những chiếc răng ấy không có các vết xước gây ra bởi việc nhai cỏ. Người vượn phương nam ăn những động vật ăn cỏ, những con thú nhai lại to lớn sống trên các thảo nguyên.

        Các công cụ bằng đá được tìm thấy bên cạnh những bộ xương của những con thú đã tuyệt chủng từ lâu, chôn sâu dưới đất trong suốt 2,6 triệu năm. Những công cụ đá và những bộ xương đó đã đợi để kể câu chuyện của chúng, câu chuyện về chúng ta. Một số xương có những vết răng phủ lên bởi những vết cắt bằng công cụ: một con thú ăn thịt đã giết con mồi và tiếp theo là người đến mót phần còn lại. Một số xương khác lại ngược lại: vết cắt bằng công cụ, rồi đến những vết răng sắc, nói lên rằng con người với vũ khí đến trước, sau đó mới là con thú với răng. Chúng ta đến từ một gia phả dài của những người thợ săn: 150.000 thế hệ.



        Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

        Ảo vọng ăn chay - Chương 1

        Tác giả: Lierre Keith
        Nguồn: The Vegetarian Myth

        Ảo vọng ăn chay

        Chương 1: Tại sao có cuốn sách này?

        Đây không phải là một cuốn sách dễ viết với tôi. Với nhiều người trong các bạn, nó sẽ không phải là một cuốn sách dễ đọc. Tôi biết. Tôi là một người ăn chay trong gần 20 năm. Tôi biết những lý do đã buộc tôi đi theo một chế độ ăn khắc nghiệt, và đó là những lý do đáng trân trọng, thậm chí là cao quý. Những lý do như là công lý, lòng từ bi, một nỗi khao khát đến tuyệt vọng làm sao để thế giới này trở nên tốt hơn. Để cứu lấy hành tinh này – những cái cây cuối cùng đã chứng kiến hàng bao thế hệ, những mẩu đất hoang sơ cuối cùng vẫn đang nuôi dưỡng những loài thú sắp tuyệt chủng, lặng im đợi số phận của chúng trong bộ lông hay bộ cánh của mình. Để bảo vệ những kẻ yếu ớt, những kẻ không có tiếng nói. Để nuôi dưỡng những người đang chịu cảnh đói ăn. Hay ít nhất là không tham gia vào cái điều kinh khủng gọi là nền chăn nuôi công nghiệp.

        Những cảm xúc khát khao này sinh ra từ một nỗi niềm đau đáu sâu sắc đến nỗi nó gần như chạm đến thế giới tâm linh. Ít nhất chúng là như vậy đối với tôi, và đến giờ chúng vẫn thế. Tôi muốn cuộc đời của tôi là một cuộc chiến đấu, là tiếng thét xung trận, là một mũi tên sắc nhọn bay vào trái tim của sự thống trị: chế độ phụ hệ, chủ nghĩa đế quốc, sự công nghiệp hóa, và mọi hệ thống quyền lực bạo tàn khác. Nếu những hình ảnh bạo lực này khiến bạn thấy không thoải mái, tôi có thể diễn đạt lại. Tôi muốn cuộc đời của tôi – cơ thể của tôi – là một nơi mà trái đất được ấp ủ, chứ không phải bị nhai nuốt, nơi mà sự bạo tàn không có chỗ đứng, nơi mà bạo lực dừng bước. Và tôi muốn việc ăn uống – hành động cơ bản nuôi dưỡng tôi – là một hành động nuôi dưỡng vạn vật chứ không phải là hành động giết chóc.

        Cuốn sách này được viết để phát triển tiếp những nỗi khát khao ấy, nỗi niềm đau đáu ấy. Nó không phải được viết để chế nhạo khái niệm quyền động vật hay chế giễu những người muốn có một thế giới hiền hòa hơn. Thay vào đó, cuốn sách này là một nỗ lực để tôn vinh những niềm khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta cho một thế giới công bình. Và những khát vọng ấy – cho lòng từ bi, cho sự lâu bền, cho sự phân phối công bằng các tài nguyên – không được đáp ứng bởi triết lý hay sự thực hành chế độ ăn chay. Chúng ta đã bị dẫn đi lầm đường. Những người tiên phong trong phong trào ăn chay có những ý định tốt. Tôi tuyên bố ngay ở đây điều mà tôi sẽ còn lặp lại nữa: rằng mọi điều họ nói về chế độ chăn nuôi công nghiệp là đúng. Đó là một hệ thống độc ác, lãng phí và hủy hoại. Không một dòng nào trong cuốn sách này biện hộ hay quảng bá cho hệ thống sản xuất thực phẩm công nghiệp ở bất cứ mức độ nào.

        Tuy nhiên, sai lầm đầu tiên là cho rằng chế độ chăn nuôi công nghiệp – một cách làm mới được thực hành 50 năm – là cách duy nhất để nuôi gia súc, gia cầm. Những tính toán của họ về mức năng lượng sử dụng, lượng calo tiêu thụ, con số những người bị đói ăn vì thực phẩm của họ bị đem nuôi gia súc, đều dựa trên quan điểm rằng gia súc, gia cầm ăn ngũ cốc.

        Bạn có thể cho gia súc, gia cầm ăn ngũ cốc, nhưng đấy không phải là chế độ ăn thích hợp với chúng. Ngũ cốc chỉ xuất hiện khi con người thuần hóa một số loài họ cỏ, sớm nhất là 12.000 năm trước, trong khi auroch, tổ tiên hoang dã của loài bò được thuần hóa hiện nay, đã có mặt hai triệu năm trước đó. Trong phần lớn lịch sử nhân loại, những loài ăn cỏ không cạnh tranh với con người. Chúng ăn cái chúng ta không ăn được – cellulose – và biến nó thành cái chúng ta ăn được – protein và chất béo. Ngũ cốc sẽ làm tăng mạnh tốc độ tăng trưởng của bò lấy thịt và sản lượng sữa của bò sữa. Ngũ cốc cũng sẽ giết chúng. Sự cân bằng vi khuẩn tinh tế trong dạ cỏ của bò sẽ chuyển thành acid và tự hoại. Gà sẽ mắc bệnh gan nhiễm mỡ nếu cho ăn toàn ngũ cốc, và chúng có thể sống mà không cần chút ngũ cốc nào. Cừu và dê, cũng là những động vật nhai lại, không bao giờ nên động vào ngũ cốc.



        Thứ Ba, 22 tháng 12, 2009

        Tác hại của sữa: Một thông điệp gửi đến các bệnh nhân của tôi

        Tác giả: Robert M. Kradjian
        Chủ nhiệm khoa phẫu thuật vú, Trung tâm y tế Seton, thành phố Daly, California, Mỹ
        Nguồn: THE MILK LETTER : A MESSAGE TO MY PATIENTS

        “Sữa”. Chỉ cần một từ ấy là đủ để bạn cảm thấy bình yên! “Một cốc sữa nóng nhé?” Lần cuối bạn nghe câu hỏi ấy là từ một người quan tâm đến bạn – và bạn biết ơn sự săn sóc của họ.

        Mọi thứ về thực phẩm và đặc biệt là sữa mang ý nghĩa quan trọng về tình cảm và văn hóa. Sữa là thức ăn đầu tiên của chúng ta. Nếu chúng ta may mắn, đó sẽ là sữa mẹ. Một liên kết yêu thương, cho và nhận. Đấy là con đường duy nhất của sự sống. Nếu không phải là sữa mẹ thì là sữa bò, hay sữa “công thức” từ đậu tương - hiếm khi nó là sữa dê, lạc đà hay trâu.

        Giờ đây, chúng ta là một quốc gia của những người uống sữa. Gần như tất cả chúng ta. Trẻ sơ sinh, trẻ em, thiếu niên, người lớn, thậm chí người già. Chúng ta uống hàng chục, thậm chí hàng trăm lít sữa một năm và thêm vào đó là nhiều ký các sản phẩm sữa như pho mát, bơ và sữa chua.

        Liệu có gì không ổn không? Chúng ta thấy hình ảnh những người khỏe mạnh đẹp đẽ trên vô tuyến và nghe những thông điệp trấn an chúng ta rằng “Sữa là tốt cho cơ thể bạn.” Các nhà dinh dưỡng của chúng ta khẳng định: “Bạn phải uống sữa, không thì bạn lấy canxi ở đâu?” Bữa trưa ở trường lúc nào cũng có sữa và gần như tất cả các bữa ăn ở các bệnh viện đều có kèm sữa. Nếu thế còn chưa đủ, các nhà dinh dưỡng vẫn bảo chúng ta hàng năm trời nay rằng các sản phẩm sữa là một “nhóm thức ăn thiết yếu”. Phát ngôn viên từ các công ty đảm bảo rằng những biểu đồ đầy màu sắc mang những thông điệp về tầm quan trọng của sữa và các chất dinh dưỡng thiết yếu khác được phân phát miễn phí đến các trường học. Sữa bò trở thành “bình thường”.

        Bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng phần lớn mọi người sống trên trái đất ngày nay không uống hay sử dụng sữa bò. Thêm vào đó, hầu hết trong số họ không uống được sữa vì nó khiến họ bị bệnh.

        Có những người trong ngành dinh dưỡng không ủng hộ việc uống sữa ở người lớn. Đây là một trích dẫn từ số tháng 3/4 năm 1991 của tạp chí Utne Reader:

        Nếu bạn thực sự muốn an toàn, bạn nên quyết định gia nhập con số ngày càng tăng của những người Mỹ đang loại bỏ hoàn toàn các sản phẩm sữa khỏi thực đơn của họ. Mặc dù nó nghe có vẻ cực đoan đối với những người trong chúng ta từ bé đã nghe nói về sữa và năm nhóm thức ăn cơ bản, nó rất khả thi. Thật vậy, trong số tất cả động vật có vú, chỉ có con người, và cũng chỉ một thiểu số con người, chủ yếu là người da trắng, tiếp tục uống sữa sau giai đoạn sơ sinh.

        Ai đúng? Tại sao lại rối tung lên như vậy? Câu trả lời ở đâu? Bạn có thể tin phát ngôn viên của ngành công nghiệp sữa được không? Bạn có thể tin phát ngôn viên của bất kỳ ngành công nghiệp nào được không? Các nhà dinh dưỡng học có được cập nhật không hay họ chỉ lặp lại những gì các giáo sư của họ biết từ nhiều năm trước? Những tiếng nói kêu gọi sự thận trọng thì sao?

        Tôi tin rằng có ba nguồn thông tin đáng tin cậy. Nguồn thứ nhất, và có lẽ là tốt nhất, là từ nghiên cứu về thiên nhiên. Nguồn thứ hai là từ nghiên cứu về lịch sử của chính loài người. Và cuối cùng là các tài liệu khoa học trên thế giới về chủ đề sữa.

        Hãy xem xét các tài liệu khoa học trước. Từ năm 1988 đến năm 1993 có hơn 2700 bài báo về sữa được lưu trữ trong các tạp chí y học. 1500 trong số đó có sữa là đề tài chính. Không thiếu gì thông tin khoa học về chủ đề này. Tôi đã xem xét kỹ hơn 500 trong số 1500 bài báo đó, loại bỏ những bài tập trung vào thú vật và những bài có kết luận không rõ ràng.

        Tôi nên tóm tắt những bài báo ấy thế nào? Dùng từ “gây kinh hoàng” chỉ hơi phóng đại một chút xíu. Đầu tiên, không một tác giả nào nói sữa bò là một thực phẩm tuyệt vời, không có hiệu ứng phụ, một “thực phẩm hoàn hảo” như ngành công nghiệp sữa vẫn muốn chúng ta tin. Trọng tâm chính của các báo cáo ấy là các chứng đau đường ruột, kích thích đường ruột, chảy máu đường ruột, thiếu máu, phản ứng dị ứng ở trẻ sơ sinh và trẻ em và các bệnh nhiễm trùng đường ruột như salmonella. Đáng sợ hơn nữa là mối quan ngại về các bệnh nhiễm virus như virus gây bệnh bạch cầu ở bò và một loại virus giống AIDS ở bò hay các quan ngại về bệnh tiểu đường ở trẻ em. Sự nhiễm bẩn sữa từ các tế bào máu và máu trắng (mủ) cùng với một loạt hóa chất và thuốc trừ sâu cũng được thảo luận. Ở trẻ em là các vấn đề như dị ứng, viêm tai và viêm amiđan, đái dầm, hen, chảy máu đường ruột, đau bụng và tiểu đường ở trẻ em. Ở người lớn, các vấn đề có vẻ tập trung chủ yếu vào bệnh tim và viêm khớp, dị ứng, viêm xoang và những câu hỏi nghiêm trọng hơn về bệnh bạch cầu, bệnh u bạch huyết và ung thư.