Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Mỹ đã biết trước nhưng lừa Nhật tấn công Trân Châu Cảng

Tác giả: Trung Hòa
Nguồn: soha.vn

Ngày 7/12/1941, Nhật bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ tại Trân Châu cảng khiến 2400 lính Mỹ thiệt mạng. Tuy nhiên nhiều người nghi ngờ đây có thể là khổ nhục kế của Mỹ.

1. Cuộc tấn công không báo trước

Ngày 7/12/1941, Nhật Bản bất ngờ tấn công hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng,

Trong vòng vài giờ, quân Nhật cũng đánh Philippines, Wake Island, Guam cùng các mục tiêu khác ở Thái Bình Dương. Các căn cứ của Mỹ ở nơi nào cũng bị bất ngờ.

Điều kì lạ là các căn cứ quân sự Mỹ không hề được cảnh báo về một cuộc tấn công quy mô lớn của Nhật.

Vì thế khi quân Nhật tấn công, quân đội Mỹ đã hoàn toàn bị bất ngờ, toàn bộ các chiến hạm của Mỹ đều bị đánh chìm hoặc bị hư hỏng nặng, 2400 lính Mỹ thiệt mạng.

Một ủy ban của quốc hội Mỹ đã tiến hành điều trần sâu rộng về thảm họa Trân Châu Cảng sau khi chiến tranh kết thúc.

Trong số những kết luận được đưa ra có kết luận rằng lực lượng Mỹ đã tập trung quá nhiều vào huấn luyện đến nỗi họ bị “mù” trước một cuộc tấn công có thể xảy ra.

Các chỉ huy quân đội Mỹ đã quá lo lắng về sự phá hoại đến nỗi họ “khóa” hết các kho đạn dược chống máy bay, thay vì phân phát nó cho các điểm bắn. Hải quân không duy trì các cuộc tuần tra bằng máy bay trên biển do thiếu thiết bị.

Ngoài ra, hai nhà sử học Jonathan Parshall và J. Michael Wenger cho biết trên tạp chí Lịch sử Hải quân lý do Mỹ bị bất ngờ là các chỉ huy không hiểu được một cuộc chiến với sự tham gia của tàu sân bay phát triển nhanh tới mức nào.

2. Liệu đây có phải khổ nhục kế của Roosevelt

Tuy nhiên, càng điều tra người ta càng phát hiện ra những điều bí ẩn và khó giải thích. Nhiều người cho rằng đây chính là một khổ nhục kế của Chính phủ Mỹ.

Dù chính phủ Mỹ gọi đây là "cuộc tấn công bất ngờ" của Nhật Bản, nhưng giới chức lại cho rằng Tổng thống Roosevelt biết trước về cuộc tấn công này.

Tuy nhiên ông đã chọn cách “im lặng” vì ông tin rằng cú sốc của cuộc tấn công sẽ thuyết phục người Mỹ về sự cần thiết can dự vào cuộc chiến.

Quả nhiên, chỉ một ngày sau vụ tấn công ở Trân Châu Cảng, được sự chấp thuận của Quốc hội Mỹ, Tổng thống Roosevelt tuyên chiến với Nhật Bản, chính thức đưa nước Mỹ tham gia vào Thế chiến thứ 2.

Điều đó càng có sức thuyết phục hơn khi người ta đặt câu hỏi tại sao radar của quân Mỹ không thể phát hiện nổi 6 tàu chiến của Nhật chở theo 400 chiếc máy bay đậu cách mục tiêu 350km?

Tối 6/12/1941, ngay trước ngày Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, tại Nhà Trắng, Tổng thống Roosevelt triệu tập một cuộc họp hiếm có mà thành phần tham dự là những cố vấn chiến tranh cao cấp.

Bao gồm trong đó có Đô đốc hải quân Mỹ Knox, Tư lệnh Tác chiến hải quân Stark, Bộ trưởng Chiến tranh Stimson và Cố vấn Tình báo Harry Hopkins.



Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Bài diễn văn đau đớn của thủ lĩnh da đỏ Seatle trước người da trắng

Nguồn: Wikisource
Nguồn dịch: Blog Nguyễn Vạn An

Seatle (1786-1866) là ông trùm các bộ lạc da đỏ Duwamish và Suquamish lúc đó sinh sống bên vùng đông nước Mỹ. Sau khi đã tạo nên Khu vực Washington năm 1853, chính phủ Wahington “đề nghị” người da đỏ ký các hiệp định để mua đất của họ.

Người da đỏ biết là không thể nào từ chối được.

Dưới đây là bài diễn văn hùng hồn và đau đớn của ông Seattle, trùm da đỏ, đọc trước thống đốc Isaac Stevens. Nhiều ý và căn dặn được nhắc đi nhắc lại, đọc lên thấy rất thấm thiết. Bài diễn văn này được coi là một bài học, một gia tài văn học thiêng liêng để đời và đã được dịch sang nhiều thứ tiếng.

Làm sao các người có thể mua bán khung trời và hơi ấm của đất?

Ý nghĩ đó đối với chúng tôi thật kỳ lạ. Thế nếu chúng tôi không sở hữu cái mát mẻ của không khí và cái lung linh của mặt nước, thì các người làm sao mà mua?

Mỗi mẩu đất này đều thiêng liêng cho dân tộc chúng tôi.

Mỗi cái kim óng ánh của lá thông, mỗi bờ cát, mỗi mảnh sa mù trong khu rừng âm u, mỗi bờ suối, mỗi tiếng vo vo của côn trùng đều là thiêng liêng trong ký ức và sự trải nghiệm của chúng tôi.

Nhựa chảy trong thân cây mang đầy kỷ niệm của người dân da đỏ.

Linh hồn những người da trắng quên xứ mình sinh ra khi đi vào giữa các vì sao. Linh hồn những người chết chúng tôi không bao giờ quên trái đất tuyệt vời này, vì trái đất là mẹ của người da đỏ. Chúng tôi là một phần của đất và đất là một phần của chúng tôi. Hoa thơm là em gái chúng tôi, con hươu, con ngựa, con đại bàng là anh em chúng tôi. Các đỉnh núi, các chất ngọt trong đồng ruộng, hơi ấm con ngựa nhỏ, và con người, tất cả đều cùng một gia đình.

Cho nên khi ông Sếp Lớn ở Hoa Thịnh Đốn cho người tới nói ông muốn mua đất của chúng tôi, thì ông đã đòi hỏi rất nhiều ở chúng tôi. Ông Sếp cho nói là ông sẽ dành một nơi để chúng tôi có thể sống thoải mái với nhau. Ông sẽ là cha chúng tôi và chúng tôi sẽ là con cái của ông. Chúng tôi cũng phải xét đề nghị mua đất của ông. Nhưng cái đó quả thật là rất khó. Bởi vì đất này thiêng liêng đối với chúng tôi.

Nước lung linh chảy trong các giòng suối và giòng sông không phải chỉ là nước mà còn là máu của tổ tiên chúng tôi. Nếu chúng tôi bán đất cho các ông, thì các ông phải nhớ đất là của thiêng và mỗi phản chiếu đầy màu sắc của mặt nước trong dưới hồ luôn nhắc nhở những biến cố và kỷ niệm của dân tộc chúng tôi. Tiếng nước suối thì thầm là tiếng của người cha của cha tôi.

Các con sông là anh em chúng tôi, đã cho chúng tôi đỡ khát. Các giòng sông mang thuyền chèo và nuôi các con tôi. Nếu chúng tôi bán đất cho các ông, thì từ đây các ông phải nhớ, và phải dậy cho con các ông, rằng các giòng sông là anh em chúng tôi và cũng là anh em các ông, và các ông phải yêu thương giòng sông như các ông yêu thương huynh đệ các ông. Chúng tôi biết người da trắng không hiểu tập quán chúng tôi. Đối với họ, mảnh đất này cũng như mảnh đất kia, họ là người ngoại xứ ban đêm đến lấy của đất cái gì họ cần. Đất không phải là anh em họ, mà là kẻ thù, khi họ lấy được thì họ tiến nữa. Họ bỏ mồ mả của tổ tiên mà không trăn trở gì. Họ lấy đất của con cái mà không trăn trở gì. Mồ mả của tổ tiên và gia tài của con cái họ bị rơi vào quên lãng. Họ coi mẹ, đất đai, anh em, trời đất, như là đồ vật để mua bán, cướp phá, bán đi như bán những con cừu, hay những hạt ngọc óng ánh. Lòng tham lam xui họ nghiến ngấu đất đai và chỉ còn để lại một cái sa mạc.



Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

BRICS và SCO góp phần đẩy Hoa Kỳ khỏi châu Á

Nguồn: Sputnik Việt Nam

Vào những ngày này, các phương tiện truyền thông thế giới hướng tới thành phố Ufa của Nga, nơi đang cùng lúc diễn ra hai hội nghị thượng đỉnh: BRICS và SCO (Tổ chức Hợp tác Thượng Hải).

Không chỉ riêng Washington, cả Brussels và Tokyo cũng chăm chú theo dõi các hoạt động này.

Financial Times của Anh viết: Mặc dù BRICS được thường xuyên nhắc tới hơn, nhưng Moskva vẫn đang dành mối quan tâm đặc biệt cho cả SCO. Tổ chức ít được biết đến ở phương Tây, tuy nhiên có vai trò và ảnh hưởng không thua kém BRICS. Vào thời điểm thành lập, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải gồm có Nga, Trung Quốc và bốn quốc gia Trung Á đề ra mục tiêu hành động chính là giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và biên giới. Sau một thập kỷ hoạt động, các nhiệm vụ và chức năng của SCO đã được mở rộng đáng kể. Sự đảo chiều mạnh mẽ về phía đông của Nga gần đây và tăng cường quan hệ với Trung Quốc đã không những làm tăng tiếng nói có trọng lượng của SCO, đồng thời đưa tổ chức lên cấp độ mới toàn cầu.

Mặc dù Hiến chương SCO không đề cập tới nhưng Washington vẫn lo ngại rằng, một trong những mục tiêu chính của Tổ chức Thượng Hải là đẩy Mỹ ra khỏi châu Á. Theo chuyên gia chính trị quốc tế Sergei Manukov thuộc tạp chí Ekspert, một cuộc chơi lớn đang diễn ra ở lục địa Á-Âu:

"SCO là một tổ chức phát triển năng động, đang ngày càng tự tin khẳng định mình trên trường quốc tế. Bởi vậy, ngay cả châu Âu cũng dõi theo hoạt động của hai hội nghị thượng đỉnh. Hơn nữa đây là thời điểm thuận lợi, khi dư luận tạm dừng tranh luận xung quanh cuộc khủng hoảng Hy Lạp. Ai cũng hiểu nét chủ đạo của tương lai gần là cuộc đối đấu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc giành châu Á nói chung và Thái Bình Dương nói riêng. Trung Quốc bám sát gót Hoa Kỳ, thở sát gáy, thậm chí vượt trên đối thủ trong loạt lĩnh vực quan trọng. Cả hai quốc gia — Hoa Kỳ và Trung Quốc — đang không ngừng tìm kiếm đồng minh. Sự hợp tác giữa Nga và Trung Quốc đã có thêm động lực mới nhờ quan hệ nguội lạnh với phương Tây. Đây là sự hợp tác có lợi cho cả Moskva và Bắc Kinh, đặc biệt trên mặt bằng có sẵn như SCO. Sau khi Ấn Độ và Pakistan gia nhập SCO, tổ chức sẽ càng mạnh và có uy tín hơn nữa."

Theo Financial Times nhận xét, SCO còn có thể thu nhận những xung lực phát triển mới nhờ sự tham gia của Ấn Độ và Pakistan. Chuyên gia Sergei Manukov cho rằng, kế hoạch được nêu sẽ làm suy yếu thêm chính sách của Washington ở châu Á-Thái Bình Dương:

"Ấn Độ là một trong mười quốc gia kinh tế phát triển, sở hữu những tiềm năng to lớn, yếu tố Ấn Độ gia nhập SCO sẽ tăng cường mạnh mẽ và nâng cao lập trường của SCO. Rõ ràng, đây là vấn đề hệ trọng đối với Washington. Tất nhiên, Washington có quan hệ tốt với New Delhi, nhưng người Mỹ khó có thể hài lòng trước các mối liên lạc thân thiện hơn của New Delhi và Bắc Kinh. Trước kia, Mỹ luôn khéo léo vận dụng cơ hội từ những bất đồng giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Việc quan hệ Trung-Ấn đột ngột trở nên mềm mỏng hơn bởi sự tham gia vào SCO sẽ là bất ngờ khó chịu cho Washington. Thế nên, Nhà Trắng không thể không chú ý đến hội nghị thượng đỉnh SCO tại Ufa. Sự kiện rõ ràng có ý nghĩa quan trọng hơn là những gì đang diễn ra ở châu Âu do khủng hoảng tài chính của Hy Lạp."

Nhận xét: Nếu có gì chúng ta học được từ lịch sử đẫm máu của gần 100 năm qua, đó là "Bất cứ cái gì Hoa Kỳ chạm vào đều biến thành Libya hay Iraq cả", như tổng thống Putin của Nga đã nói. Vì vậy, nếu các quốc gia châu Á có thể đẩy được Hoa Kỳ khỏi lục địa này sớm bao nhiêu thì hòa bình và thịnh vượng có thể đến sớm bấy nhiêu.

Xem thêm:



Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

Kiev trả nợ cho các ông chủ ở Washington bằng máu của người Ukraina

Nguồn: Tiếng nói Nước Nga

"Hoa Kỳ đang hy vọng cuộc chiến ở Ukraina sẽ tiếp tục. Còn chính quyền Kiev - bên tồn tại nhờ dựa vào Washington trong tình hình đồng tiền quốc gia ngày càng mất giá, chấp nhận trả những khoản nợ chính trị bằng máu của người dân Ukraina." Nhà báo Ba Lan Jakub Koreyba đã viết về điều này trên trang web hãng tin RIA Novosti.

Cuộc đàm phán Minsk thất bại đã chôn vùi hy vọng của tất cả những ai lâu nay mong đợi chấm dứt đổ máu ở Donbass. Tiến trình đàm phán cho thấy, ngoài Moskva chẳng có mấy ai quan tâm đến việc kết thúc chiến tranh. Những động thái của phương Tây và chính phủ Ukraina chứng tỏ ngừng bắn không phải là mục tiêu của họ. Mưu đồ ở đây là lợi dụng bom đạn để thỏa mãn những tham vọng chính trị.

Kiev có khả năng ngừng chiến sự ở Đông Ukraina: việc cần làm trước hết là ra sắc lệnh chấm dứt nổ súng, tiếp đến tổ chức cuộc thương lượng với các khu vực bàn về tương lai của đất nước. Sự lựa chọn ở đây rất đơn giản: hoặc chấp nhận thỏa hiệp, hoặc ép các đối thủ thay đổi quan điểm sau khi làm lực lượng của họ suy yếu. Trải qua sáu tháng xung đột, điều có thể thấy rõ là Kiev không hề nỗ lực làm dịu căng thẳng. Ngay sau mỗi cơ hội tiến tới hòa bình, lập tức xuất hiện vòng xoáy mới của chiến dịch trừng phạt.

Thực tế lúc này Kiev đang triệt để kiến thiết một hệ tư tưởng quốc gia mới – xáo trộn toàn bộ nền tảng văn hóa của nhà nước Ukraina. Không có gì khó hiểu là trong hoàn cảnh như vậy, chẳng riêng chính quyền xuất hiện nhờ cuộc đảo chính mà cả quốc gia Ukraina sẽ trở nên bất hợp hiến đối với người dân miền Đông.

Tới lượt cộng đồng quốc tế gánh trách nhiệm ngăn chặn đổ máu, bởi Kiev không quan tâm kết thúc cuộc nội chiến như những lý do được nêu trên. Đầu tiên, đó là những ai đã "đầu tư" 5 tỷ USD để "củng cố nền dân chủ" ở Ukraina, tức là Hoa Kỳ. Hôm nay, chỉ có Washington nắm trong tay những công cụ chính trị và kỹ thuật có sức ảnh hưởng đến nhà cầm quyền Ukraina, có thể "buộc Kiev tiến tới hòa bình." Nhưng vấn đề ở chỗ, việc nội chiến tiếp tục ở Ukraina hoàn toàn phù hợp với chiến lược của Mỹ về tăng cường quyền bá chủ trên thế giới. "Hoa Kỳ không hề cần những chiến thắng, - George Friedman, một trong những nhà tư tưởng chiến lược nổi bật của Mỹ ngày nay nói. – Cái mà người Mỹ muốn là sử dụng chiến tranh để gây trở ngại cho đối thủ địa chính trị, hòng kiềm chế họ tập trung tiềm lực."

10 năm qua, Washington thận trọng theo dõi Nga phục hồi kinh tế và thực hiện chính sách đối ngoại ngày càng "quyết đoán", hay đúng hơn là ngày càng độc lập. Các nhà chiến lược của Bộ Ngoại giao Mỹ và giới công nghệ chính trị từ Langley chợt nhận ra "không thể tiếp tục như vậy": Nga phải bị vô hiệu hóa khỏi vai trò một trung tâm độc lập trong các quan hệ quốc tế. Để phục vụ mục tiêu này, không có gì hay bằng cuộc chiến trực tiếp trên biên giới Nga, dòng người tị nạn, thảm họa nhân đạo và sự bế tắc kinh tế của một đối tác thương mại quan trọng.

Bằng nỗ lực đặc biệt và chi phí lớn về tài chính, Hoa Kỳ đã lần lượt đặt những nhân vật hiếu chiến vào ghế chỉ huy, thủ tướng, tổng thống. Cuộc chiến “nhỏ” cách xa biên giới Mỹ càng kéo dài và đẫm máu, càng có nhiều nguồn lực lớn của Nga bị sao nhãng khỏi các hoạt động chính trị thế giới.

Cũng lúc này, các đại diện Novorossia thấy họ chưa thể chấm dứt cuộc xung đột. Các nhà lãnh đạo DNR và LNR nhận thức rất rõ, với chính phủ ở Kiev như hiện nay họ không có cả tương lai chính trị lẫn sự đảm bảo tồn tại.

Cuộc chiến ở Ukraina rất khó sớm chấm dứt. Đã từ lâu, mấu chốt của vấn đề không chỉ còn là qui chế của các khu vực trong nước. Ukraina và nhà cầm quyền Ukraina đã trở thành con tin trong ván cờ toàn cầu khốc liệt, nơi kiện tướng cờ Washington sẵn sàng đem thế các quân Tốt Đông Âu một cách không thương xót cho chiến thắng chiến lược trước Moskva.

Các ông Yatsenyuk và Poroshenko không hiểu rằng, Washington quyết đấu với Moskva đến người Ukraina cuối cùng.

Xem thêm:



Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Con tàu Titanic Phương Tây bắt đầu chìm

Tàu Titanic đang chìm

Nguồn: politobzor.net
Nguồn dịch: Kichbu Blog

"Hệ thống các giá trị Mỹ" bị một đòn đánh mới. Iran đã từ chối sử dụng đồng dollar Mỹ trong thanh toán với nước ngoài. Theo phó giám đốc Ngân hàng Trung ương của Iran Ali Goliama Kamyaba tuyên bố, từ nay khi ký kết hợp đồng với các nước, Iran sẽ sử dụng các đồng tiền khác. Đó, đặc biệt, sẽ là nhân dân tệ, euro, lira Thổ Nhĩ Kỳ, ruble Nga và won của Hàn Quốc. Nước xuất khẩu dầu lớn thứ tư trên thế giới và lớn nhất vào Trung Quốc... Chính phủ Iran đã thông báo rằng đang áp dụng các biện pháp phòng trường hợp Hoa Kỳ tăng cường các lệnh trừng phạt. Đằng sau tất cả điều này hoàn toàn có thể nhìn thấy rõ "những cái tai" của các cuộc đàm phán và thỏa thuận Nga-Iran gần đây...

Ngoài sự kiện quan trọng như vậy, lợi ích của Hoa Kỳ cũng đã bị thêm một cú đánh ở khu vực Trung Đông. Đó dĩ nhiên là nói về Yemen. Một chính phủ hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Saudi Arabia, và tiếp theo của Washington, đã nhanh chóng thất bại trong cuộc chiến giành quyền lực! Đại diện của phong trào "Ansar Allah" (phiến quân người Shiite, Housit) đã thành công trong cuộc đảo chính hầu như không đổ máu. Mặc cho những khẩu hiệu tôn giáo, trước hết, cuộc đảo chính nhằm chống lại Saudi Arabia. Mặc dù giá trị trực tiếp của Yemen trên thị trường dầu là không lớn, cần thấy rằng ở đó có những lối ra Ấn Độ Dương thuận lợi đối với người Saudi... Những lợi ích của Hoa Kỳ đang đòi hỏi chính phủ thân Saudi Ẩbia ở Yemen, nhưng những người nổi dậy đã thực hiện thêm một biện pháp quan trọng nữa, họ không cho phép chính quyền hiện hành từ chức, đồng thời đã kiểm soát được nó. Điều này sẽ không cho phép Hoa Kỳ hoặc Saudi Arabia nhanh chóng tiến hành "hoạt động thân dân chủ" trong khu vực. Và bất kỳ "các hoạt động đặc biệt" nào nhằm phá hoại từ bên trong sẽ cần đến không ít thời gian.

Điều này có nghĩa là gì?! Tiếp cận dầu mỏ của Ả Rập sẽ bị giới hạn ở thị trường châu Á, nơi bạn hàng chính yếu là Trung Quốc. Trong hai năm qua, Saudi Arabia đã dần bị mất thị phần trên thị trường Trung Quốc có lợi cho Nga. Bây giờ sẽ còn mất nhiều hơn nữa ... Nếu so sánh điều này với quyết định của Iran và tăng lượng cung cấp của Nga, thì chúng ta sẽ thấy xuất hiện trước mặt mình một thị trường sản phẩm dầu mỏ to lớn, nơi đơn vị thanh toán không phải là đồng dollar! Cần phải tính đến cả các nhà khai thác dầu mỏ Nam Mỹ. Họ cũng đã từ chối thanh toán bằng dollar. Rồi Châu Âu sẽ không duy trì được bao lâu. Có lẽ trong năm nay Nga sẽ yêu cầu EU thanh toán dầu và khí đốt bằng tiền tệ khác chứ không phải dollar Mỹ. Trong thời gian tương đối ngắn, dòng chảy của đồng dollar dầu mỏ đã giảm sút nghiêm trọng và sẽ còn chỉ giảm hơn nữa. Đây và cũng là những động thái của Nga mà các chuyên gia kinh tế dùng để đe dọa phương Tây!

Nhiều người nghĩ rằng việc chuyển đổi từ thanh toán bằng dollar như một sự kiện tức thời: "Hôm nay Putin đã phát biểu trên truyền hình, còn ngày mai các nhà tài phiệt Mỹ sẽ nhảy ra từ các cửa sổ"... Dĩ nhiên, các nhà kinh tế Mỹ sẽ không đơn giản đứng nhìn sự sụp đổ nền kinh tế họ! Và quá trình này không chỉ là một khoảnh khắc, mà còn không thể đảo ngược. Đúng là hiện nay ngày càng ít phụ thuộc hơn vào Hoa Kỳ, mà phụ thuộc vào Nga ngày càng nhiều hơn. Điều này đã trở nên có thể do lập trường mang tính nguyên tắc của Nga. Nếu Hoa Kỳ tiến hành chính sách kinh tế của họ dựa trên lợi ích riêng của mình, và tích cực truyền bá quan điểm của họ ở khắp mọi nơi, thì Nga đã chọn con đường quan hệ hợp tác. Không cần phải hiểu điều này như là trên thị trường có "một Rasseya hiền lành" hoặc "một nước Nga rất đạo đức" nào đó. Không! Việc thanh toán lạnh lùng và rất thực dụng - "chúng tôi sẽ chia sẻ một phần lợi nhuận của ngày hôm nay, vì chiến thắng chắc chắn vào ngày mai"...

Những nỗ lực áp đặt Nga bằng các lệnh trừng phạt, trò chơi dầu mỏ và phá giá tiền tệ đã không thành công. Hóa ra nguồn dự trữ an toàn là rất lớn. Những "quỹ bình ổn" nhất mà "các chuyên gia độc lập" chế nhạo, gọi chúng là "cái bùng binh của những kẻ bất tài vô dụng trong nền kinh tế của ban lãnh đạo Nga đã trở nên một bảo đảm thắng lợi kinh tế của Nga. Các biện pháp trừng phạt của Châu Âu, trong tình huống này, đã bị biến từ một phương tiện kỳ vọng gây áp lực đối với LB Nga thành công cụ đe dọa chính trị và kinh tế đối với Liên minh Châu Âu.



Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

Thượng viện Mỹ thừa nhận Hoa Kỳ đã và đang tra tấn tù nhân một cách dã man

Tác giả: Jane Mayer
Nguồn: The New Yorker
Nguồn dịch: Báo An ninh Thế giới

Cuối tháng 12/2014, Thượng viện Mỹ đã cho công bố một bản phúc trình dài 499 trang, mô tả tỉ mỉ hành vi tàn ác không thể tưởng tượng nổi của CIA. Trước sự thật này, một vài người lạc quan cho rằng, việc ngành lập pháp Mỹ tố cáo hoạt động sai trái của cơ quan hành pháp sẽ đem lại những thay đổi theo chiều hướng tốt. Nhưng đây là chuyện khó tin và có lẽ cũng chẳng bao giờ xảy ra!

Ngày 29/12/2014, tờ The New Yorker đã có một bài phân tích, đánh giá về những vấn đề liên quan đến CIA xoay quanh bản phúc trình này…

1. Đến bây giờ, người ta mới biết rõ là ngay từ năm 2002, khi chương trình tra tấn tù nhân được "bật đèn xanh" thì những người làm công tác này đã ý thức rằng theo luật Mỹ, họ có thể phạm tội hình sự.

Một văn bản cho thấy các nhân viên CIA phụ trách thẩm vấn muốn được bảo đảm rằng những tù nhân bị họ tra tấn, hỏi cung sẽ bị cô lập, biệt giam vĩnh viễn, không bao giờ có cơ hội ra trước tòa án để khai những gì đã xảy ra trong lúc bị thẩm vấn. Cũng theo văn bản ấy, các điều tra viên muốn "tù nhân sẽ vĩnh viễn biến mất". Dựa vào lôgíc đó, một số tù nhân "ngoại hạng" bị Chính phủ Mỹ giam giữ ở Guantanamo chưa bao giờ được đưa ra xét xử công khai.

Bản phúc trình cũng cho thấy CIA nhân danh lợi ích an ninh tối cần thiết của quốc gia, đã lừa dối cả chính quyền của Tổng thống Bush lẫn Quốc hội Mỹ. Chính quyền Bush cho phép CIA tiến hành thẩm vấn, còn Quốc hội Mỹ là ngành có quyền giám sát hoạt động của CIA.

Tuy nhiên, khi vụ việc đổ bể, CIA chối bai bải, rằng họ không hề thực hiện hành vi tra tấn tù nhân, mà họ "chỉ tìm đủ mọi cách để khai thác tin tức tình báo nhằm bảo vệ an ninh quốc gia mà thôi". Chưa hết, bản phúc trình còn chứng minh một điều là dùng cực hình tra tấn chẳng có ích lợi gì. Người ta có thể lấy tin tức tình báo bằng những phương pháp khác mà không cần phải hành hạ thân thể tù nhân. Hơn nữa, thẩm vấn bằng cực hình thường đưa đến những hậu quả đau thương, làm cho tù nhân sợ quá, bịa chuyện khai láo để khỏi bị đánh đập, gí điện, trấn nước….

Sau khi bản phúc trình được Thượng viện Mỹ công bố, còn có những tài liệu khác cho thấy CIA đã nói dối quanh, đánh lạc hướng các cơ quan chủ quản. Tháng 6/2003, cố vấn tư pháp của Văn phòng Phó tổng thống Mỹ hỏi CIA rằng họ có quay video hành vi trấn nước tù nhân hay không. Cố vấn pháp lý của CIA trả lời là "không". Về mặt kỹ thuật thì điều này đúng vì CIA không hề quay video lúc tra tấn tù nhân nhưng trước đó, họ có làm video về vấn đề này và đoạn băng ghi hình vẫn còn đó.

Không chỉ chối cãi, CIA còn quanh co khi trả lời những câu hỏi của Thượng viện. Ở nhiều đoạn trong bản phúc trình, CIA vừa nói láo, vừa xiên xẹo khiến người đọc thắc mắc không hiểu các quan chức của CIA nghĩ thế nào mà lại dám cả gan đánh lừa, dối gạt cả những cơ quan chủ quản của mình. Họ choàng lên mình một tấm áo che phủ mọi hoạt động bí mật vì họ cho rằng không ai có quyền kiểm soát hoạt động của CIA. Chỉ CIA mới là nơi duy nhất chịu trách nhiệm về hành động của chính họ.



Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Phương Tây trừng phạt kinh tế Nga càng mạnh, đòn bật boomerang sẽ càng đau hơn

Nguồn: Tiếng nói Nước Nga

Những động cơ chính trị đang đem lại thiệt hại kinh tế. Bên gánh chịu tổn thất bao gồm cả Moskva lẫn Brussels và đặc biệt là Kiev.

Không những thế, mỗi tháng trôi qua mất mát lại càng nhiều hơn. Theo các chuyên gia, thì đây chính là mục tiêu của Washington. Những hạn chế nhằm vào Nga lại không tác động mấy tới Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khó thể nói như vậy về các doanh nghiệp châu Âu và nền kinh tế Ukraina.

Theo tính toán sơ bộ, ngân sách của chính quyền Kiev năm 2014 đã mất mát khoảng 10 tỷ USD. Châu Âu thì thấp thỏm e ngại với sự xuất hiện đối xứng của những "thiên nga đen" mới. Đây là thuật ngữ mà quan chức phương Tây ám chỉ các động thái chiến lược của Nga nhưng tạo ra hoàn cảnh bất lợi cho EU. Hiện giờ, đó là lệnh cấm nhập khẩu lương thực từ các nước EU và từ chối dự án Dòng chảy phương Nam. Liệu tiếp theo sẽ là gì?

Mọi cái sẽ chỉ càng tồi tệ hơn nếu tiếp tục cuộc chiến trừng phạt. Các chính trị gia và doanh nhân EU nhận thức rất rõ điều này. Ở phương Tây ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng đã tới lúc phải chấm dứt sự đối đầu. Trong đó gần đây nhất là tuyên bố của Tổng thống Áo Heinz Fischer. Theo ông, áp đặt biện pháp trừng phạt mới chống Nga sẽ là quyết định ngu xuẩn và tai hại. Phó Chủ nhiệm Khoa Kinh tế và chính trị thế giới Trường Cao học Kinh tế Nga Igor Kovalyov đồng tình với quan điểm này. Ông Kovalyov đã nêu khả năng cùng gỡ bỏ các hạn chế:

“Mỗi tháng trôi qua, thậm chí mỗi ngày, hậu quả tác động càng rõ rệt hơn. Bởi khối lượng trao đổi thương mại, sự ràng buộc liên lạc và hợp tác lẫn nhau rất lớn. Lệnh trừng phạt không bao giờ mang tính một chiều. Chúng luôn đánh vào cả đối tượng bị cấm vận lẫn những người áp đặt. Một ví dụ điển hình có thể thấy là quan hệ Mỹ - Cuba. Sau nhiều thập kỷ Hoa Kỳ tiến hành chiến tranh cấm vận với kẻ thù dường như là không đội trời chung của mình, nhưng rồi cùng tới lúc Washington và Havana thấy cần thông qua quyết định thiết lập quan hệ. Đối với EU và Nga, tôi nghĩ đó là vấn đề của vài tháng. Không thể sớm rút lui các biện pháp trừng phạt, cần một thời gian nhất định.”

Chủ đề dỡ bỏ lệnh trừng phạt chưa được đưa vào chương trình nghị sự của Brussels. Tuy nhiên, mọi cái đang dẫn tới điều này, - các nhà phân tích nhận định. Hầu như ngày nào, Ủy ban châu Âu cũng nhận được báo cáo từ các nước về tổn thất được qui thành tiền do cuộc đối đầu chính trị với Nga gây nên. Ví dụ, Rome đã ước tính 13% tổn thất từ giảm trao đổi thương mại với Nga trong năm 2014 và có thể tới 17% trong năm 2015. Con số này không phải vài triệu mà là hàng tỷ euro. Đối với nền kinh tế đang ốm yếu của Ý, những thiệt hại như vậy thật khó thể tha thứ. Đáp lại thực tế, Bộ trưởng Ngoại giao Liên minh châu Âu Federica Magerini chỉ biết lắc đầu và phát biểu rằng, đối với Brussels điều quan trọng lúc này là kết quả chính trị từ các biện pháp trừng phạt, kinh tế chưa cần tính tới. Sự can đảm liệu có đủ lâu? Thật khó chắc chắn.

Trong bối cảnh này, càng khó thể hiểu nỗ lực nối gót bạn bè của Ukraina, đất nước với nền kinh tế đang bị lung lay, - giáo sư Alexander Mikhailenko Bộ môn Hoạt động đối ngoại của Nga thuộc Khoa An ninh quốc gia Học viện Kinh tế và hành chính chia sẻ suy nghĩ như sau:

“Vì sao Ukraina ràng buộc rất nhiều vào mối quan hệ với Nga? Họ bán cho Nga một phần đáng kể các sản phẩm toa xe - 70% khối lượng sản xuất, các đầu tầu. Giờ đây tất cả sẽ bị chìm vào dĩ vãng. Rồi động cơ máy bay từ nhà máy Motor Sich. Nhiều kết cấu kim loại khác nhau từng được Ukraina bán cho Nga. Các hợp đồng trao lớn sẽ bị khép lại.”

Trong số nạn nhân còn phải kể đến nhiều hãng quốc tế. Ví dụ, Exxon Mobil (Mỹ), BP (Anh), Siemens, Bosch (Đức) và v.v... Đối với các doanh nghiệp lớn, thực tế không chỉ là sự thua lỗ trong vài tháng mà kéo theo những tổn thất tiềm năng của vài năm tới. Loạt chiến lược kinh tế dựa trên các hợp đồng dài hạn đã bị phá vỡ. Không dễ gì lấy lại những cơ hội bị bở lỡ, bởi người Trung Quốc thực tế đang nhảy vào thế chân họ.



Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Tại sao tôi xấu hổ là một công dân Hoa Kỳ

Nữ thần Tự do xấu hổ

Tác giả: Dave Lindendorf
Nguồn: CounterPunch
Nguồn dịch: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa

Tôi sẽ nói điều này: Tôi xấu hổ là một công dân Mỹ. Điều này không dễ dàng, bởi vì đã sống ở nước ngoài và chứng kiến những chỗ khá tồi tệ trong cuộc đời mình, tôi biết rằng đất nước này có nhiều điều vĩ đại, nhiều con người vĩ đại sống ở đó. Nhưng gần đây tôi đã đi đến kết luận rằng Hoa Kỳ đang là một quốc gia méo mó và bệnh hoạn, nơi mà cái xấu vượt xa cái tốt.

Tôi có thể nhớ những lần đầu tiên có cảm giác ghê tởm đối với đất nước của tôi. Lần đầu là khi tôi nhận ra, ở cái tuổi 17 tuổi nhạy cảm, sự tàn bạo mà Hoa Kỳ đang gây ra đối với những người dân Việt Nam nhân danh tôi – cưỡng hiếp, giết hại, phá hủy làng mạc của nông dân, ném bom na-pam xuống trẻ em ở miền Nam, và ném bom rải thảm miền Bắc Việt Nam (bao gồm cả đê điều, trường học và bệnh viện). Sau đó tôi thấy kinh hoàng và ghê tởm khi được biết một cách muộn màng rằng Hoa Kỳ đã dồn những người bản địa, người Mỹ gốc Nhật và người Nhật định cư hợp pháp vào trại tập trung trong thế chiến thứ hai, và chính quyền quốc gia đã đồng lõa với đám phát xít da trắng quỷ quyệt ở California trong việc tước đoạt trang trại, nhà cửa và công việc của những người bị giam giữ đó.

Nhưng những tội ác đó, mặc dù kinh khủng, vẫn chưa là gì so với những thứ mà tôi thấy đất nước này đang làm hiện nay.

Cho phép tôi liệt kê một số cách mà đất nước này làm tôi ghê tởm:

1. Nó không phải chỉ là lần công bố mới nhất bản báo cáo được sửa chữa rất nhiều về chương trình tra tấn có chủ ý của chính quyền Bush/Cheney, khởi sự vào năm 2001 sau sự kiện 11 tháng 9 và kéo dài trong nhiều năm không chỉ đối với những người bị coi là khủng bố mà còn cả đối với những người được biết là hoàn toàn vô tội. Nó là ở chỗ không có gì đã được thực hiện, hay có vẻ như sẽ được thực hiện, để trừng phạt những kẻ cho phép và ủng hộ cho các tội ác chiến tranh cũng như tội ác chống nhân loại đó. Và không chỉ có vậy mà còn quá nhiều người Mỹ đồng bào với tôi đồng tình với điều đó. Ngay cả trên truyền thông, bao gồm cả trên NPR, tôi nghe thấy các phóng viên nói rằng một trong số “các câu hỏi” về chương trình tra tấn của chính quyền là nó “có hiệu quả” hay không đối với việc thu thập thông tin về hoạt động khủng bố. Bất kể tra tấn có hiệu quả hay không, Hoa Kỳ và các quốc gia còn lại của thế giới đã ký một hiệp định sau Thế Chiến thứ II nói rằng tra tấn là một hành vi tội phạm (hình phạt bao gồm cả tử hình theo luật pháp quốc tế!). Đó là sự che đậy hay thất bại trong việc trừng phạt tội ác tra tấn.

2. Cảnh sát ở Hoa Kỳ đã bị quân sự hóa về cả phương diện vật chất lẫn huấn luyện và sự tự nhận thức, khiến họ giờ đây trở thành một dạng quân đội xâm lược hơn là “viên chức hòa bình” (một khái niệm lỗi thời mà bạn không bao giờ còn nghe ai sử dụng nữa). Hết lần này đến lần khác chúng ta chứng kiến cảnh sát hung hăng sử dụng vũ lực, trong đó có cả vũ lực chết người, trong các tình huống cần đến sự bình tĩnh và hiểu biết. Điều kinh tởm nhất đối với tôi là chứng kiến một xe cảnh sát ở Cleverland lao thẳng lên bãi cỏ tới ban công trong một sân chơi, nơi có cậu bé 12 tuổi Tamir Rice đang ngồi, một mình, chơi với khẩu súng đồ chơi. Trong vòng chưa tới hai giây, một cảnh sát bước ra khỏi xe và bắn cậu bé tử thương vào bụng. Hoàn toàn không có lý do gì cho vụ xử tử này. Không có ai quanh đó bị đe dọa bởi cậu bé. Cảnh sát lẽ ra phải dừng xe ở khoảng cách an toàn, đánh giá tình hình, sau đó kêu gọi Rice rời khỏi ban công và buông súng, ngay cả nếu họ sợ rằng đó là khẩu súng thật. Hoặc là họ lẽ ra phải ra lệnh cho cậu bé ngồi yên và buông súng, và sau đó nếu cậu bé không làm theo, họ phải chờ tăng cường lực lượng, trong đó có người được đào tạo trong việc đàm phán. Trái lại, họ chỉ lao thẳng xe tới đó như trong tình huống giải cứu con tin và hạ gục cậu bé. Sau đó họ không làm gì để giúp cậu bé. Ugh! Và rồi không có làn sóng phẫn nộ phổ biến nào về vụ sát hại tàn bạo đó của cảnh sát.